Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰCỦA PHÁP NHÂN VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀVỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN 1. Các quan điểm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân TNHS của pháp nhân là một vấn đề không mới trong khoa học pháp lý hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm pháp lý của pháp nhân mới chỉ được quy định trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, hành chính.
Trong lĩnh vực hình sự, trách nhiệm của pháp nhân vẫn chưa được quy định. Từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX, khoa học hình sự nước ta mới đưa ra những luận chứng chủ yếu cho sự điều chỉnh về mặt luật pháp chế định TNHS của pháp nhân. Tuy chỉ có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này song đã xuất hiện những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này mà tựu chung lại là hai luồng quan điểm cơ bản. Đó là quan điểm ủng hộ việc thiết lập chế định TNHS nhiệm hình sự của pháp nhân và quan điểm phản đối việc thiết lập chế định này.
Tất cả đều đưa ra những lập luận và lý lẽ riêng để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình. Quan điểm cho rằng chủ thể của tội phạm chỉ có thể là thể nhân chiếm ưu thế và tồn tại trong một thời gian dài. Những nhà hình sự học theo quan điểm này cho rằng việc thiết lập TNHS của pháp nhân đã vi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự là nguyên tắc lỗi. Theo cách hiểu truyền thống từ trước đến nay, lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của người đó đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị Luật hình sự cấm và thái độ đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.
Do đó lỗi trong pháp luật hình sự về cơ bản chỉ có ở cá nhân người phạm tội. Ngay cả trong trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng z phạm thì mỗi người tham gia với một vai trò khác nhau, họ có thể là người tổ chức, người giúp sức, người thực hành, người xúi giục nên tính chất, mức độ tham gia của mỗi người là khác nhau vì vậy lỗi của họ là khác nhau. Lỗi trong trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng phạm chỉ đặt ra đối với mỗi người phạm tội chứ không thể quy lỗi chung đối với nhóm đồng phạm đó[1, tr. Không thể có lỗi của tập thể con người mặc dù có thể tập thể con người đó có những quan điểm chung về một số vấn đề như trường hợp đồng phạm hay đồng phạm có tổ chức[8, tr.
Còn pháp nhân là do con người lập ra và hoạt động của nó chỉ có thể được thực hiện thông qua những con người cụ thể nên nó không thể và không bao giờ có lỗi. Pháp nhân chỉ là một thực thể giả tưởng của pháp luật, nó chỉ là cấu trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá nhân của những thành viên pháp nhân. Các nghị quyết, các quyết định của pháp nhân chỉ là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên pháp nhân chứ không phải tự sự mong muốn của chính pháp nhân đó [30, tr.Do vậy không có lỗi nào có thể quy kết cho pháp nhân và theo logic của sự vật và phép biện chứng của triết học - không có lỗi hình sự thì không có TNHS. Trái lại những quan điểm của những nhà hình sự học theo học thuyết truyền thống phản đối việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân, nhưng người ủng hộ thiết lập chế định TNHS của pháp nhân đã đưa ra lập luận phản bác lại những quan điểm trên.
Họ cho rằng pháp nhân không phải là một trìu tượng pháp lý thuần túy mà nó có những đặc tính không đổi được thừa nhận chung, nó có sự tồn tại thực tế trong mối quan hệ với các thành viên của pháp nhân và tổ chức trên thực tế. Ý chí của pháp nhân hoàn toàn độc lập với ý chí của các thành viên trong pháp nhân. Trong điều lệ cũng như trong các văn bản của pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, về hoạt động của pháp nhân và pháp nhân có thể tự do tìm kiếm lợi ích riêng của bản thân độc lập với lợi ích cá nhân tạo lên nó [30, tr. Pháp nhân bao gồm các cá nhân z được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua các cấu trúc pháp lý xác định.
Trong mỗi pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên pháp nhân mà pháp nhân hoàn toàn có ý chí riêng của mình, có mong muốn riêng của mình, được xử sự tự do và hưởng các quyền tự chủ của chủ thể và vì vậy, nó cũng có điều kiện để có lỗi khi thực hiện tội phạm. Pháp nhân có thể được so sánh với con người. Denning LJ, một thẩm phán nổi tiếng người Anh trong một phiên tòa xét xử tranh chấp giữa hai công ty tại Anh năm 1957 đã có một nhận định mà sau này thường được dẫn chứng để nói về tư cách pháp nhân: “Một công ty dưới góc độ nào đó giống như cơ thể con người. Nó có bộ não, có hệ thần kinh trung ương kiểm tra những gì nó làm.
Nó cũng có tay để cầm công cụ và hành động theo mệnh lệnh của hệ thần kinh trung ương” [40, tr. Nếu lỗi của thể nhân là sự tự do ý chí của chủ thể, tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội trong khi có tự do và khả năng lựa chọn hành vi của mình thì pháp nhân cũng vậy, nó cũng có tự do khi lựa chọn hành vi của nó. Do đó những người theo quan điểm ủng hộ TNHS của pháp nhân khẳng định lại việc quy kết TNHS của pháp nhân là trên cơ sở lỗi chứ không phải quy tội khách quan. Những người theo học thuyết truyền thống chống lại TNHS của pháp nhân ngoài việc đưa ra quan điểm việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân vi phạm nguyên tắc lỗi trong luật hình sự thì theo họ, nó còn vi phạm một nguyên tắc nữa của luật hình sự đó là nguyên tắc cá thể hóa hình phạt.
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đòi hỏi khi tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội thì trong từng vụ án cụ thể phải căn cứ vào hành vi, sự tham gia cụ thể của họ vào tội phạm bị truy cứu, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, các yếu tố nhân thân của người phạm tội để đưa ra một bản án phù z hợp đối với từng người phạm tội. Mỗi người phạm tội sẽ có hình phạt thỏa đáng. Trong khi một tội phạm được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân, thì hoặc là toàn bộ các thành viên của pháp nhân đã phạm tội cần phải bị trừng trị có sự phân biệt và tương xứng với lỗi của từng người hoặc là chỉ trừng trị một hoặc một số người trong pháp nhân đã liên hiệp hành động phạm tội. Sẽ là đúng, công bằng nếu trừng trị những người đó; sẽ là không công bằng nếu lại trừng trị tất cả những thành viên khác trong pháp nhân chỉ vì lý do họ thuộc về một tập thể hoặc là họ phụ thuộc vào nó [18, tr.
Như vậy, rõ ràng trong cả hai trường hợp đều không có nhu cầu trừng trị vào pháp nhân. Theo Thomas Hobbes, cái giá thực sự khi áp dụng TNHS, xét đến cùng, chính các pháp nhân không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân như người góp cổ phần, cổ đông, người lao động… phải chịu. Như vậy chế định TNHS của pháp nhân không thể chấp nhận được về phương diện pháp lý cũng như đạo đức [30, tr. 53] Về quan điểm cho rằng việc quy kết TNHS và áp dụng hình phạt với pháp nhân sẽ không công bằng và gây hại cho nguyên tắc cá thể hóa hình phạt thì theo quan điểm của hình sự học hiện đại, những người ủng hộ việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân lý giả rằng: Chế tài hình sự buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những pháp nhân khi các thực thể này phạm tội.
Công bằng không có nghĩa là phải trừng trị các cá nhân này hay cá nhân khác mà công bằng chính là buộc chủ thể thực hiện tội phạm phải chịu hình phạt. Không có lý lẽ công bằng nào lại buộc cá nhân những người cấp dưới vốn chẳng có quyền hành gì và các nhà quản lý có trách nhiệm thành những người phải hứng chịu hậu quả thay cho pháp nhân phạm tội [18, tr. Cũng không có sự công bằng nào về cùng một hành vi phạm tội lại có những cách đối xử khác nhau. Đối với pháp nhân phạm tội cùng loại thì xử lý bằng các biện pháp trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm z hành chính.
Còn đối với cá nhân những người lãnh đạo, người đại diện của pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân lại bị trừng trị bằng biện pháp TNHS nghiêm khắc hơn nhiều. Như vậy bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân là thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng. Pháp nhân phạm tội thì pháp nhân phải là chủ thể đứng ra chịu TNHS. Nếu pháp nhân phạm tội mà bắt thành viên của pháp nhân phạm tội chịu TNHS còn pháp nhân chỉ bị xử lý chế tài phi hình sự là sự không công bằng.
Bản án kết tội đối với một pháp nhân khác với bản án có thể xảy ra của các thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân các thành viên của pháp nhân mà chính là pháp nhân – chủ thể chịu TNHS. Tiếp nữa những người theo học thuyết truyền thống không chỉ chống lại TNHS của pháp nhân bằng lý lẽ là pháp nhân không có khả năng phạm tội mà họ còn cho rằng các chế tài hình sự nói chung không thể áp dụng được cho pháp nhân và nếu có hình phạt nào áp dụng thì cũng không cần thiết và cũng không có hiệu quả. Những hình phạt đặc trưng, truyền thống và mang lại hiệu quả trong luật hình sự như tử hình, phạt tù…thị lại không thể áp dụng được cho pháp nhân. “Người ta có thể bắt giam như thế nào đối với một thực thể mà bản chất của nó là vô hình?” [18.