Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam làm nảy sinh các quan hệ sở hữu mới cùng sự phát triển của các loại tài sản phi truyền thống, tiền ảo. Đi cùng với đó, phân hóa giàu nghèo và nhu cầu tài chính gia tăng đã tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Đáng chú ý là sự xuất hiện của các tổ chức cho vay qua ứng dụng công nghệ (app) với mức lãi suất vượt quá 1.000%/năm, liên kết với các doanh nghiệp núp bóng tài chính, mua bán nợ, văn phòng luật nhằm cưỡng đoạt tài sản của người vay và người thân thích.

Tội cưỡng đoạt tài sản có tỷ lệ ẩn cao do nạn nhân e ngại tính chất nhạy cảm của các thông tin, hình ảnh bị đe dọa phát tán nên chấp nhận thỏa hiệp thay vì trình báo cơ quan công an. Phương thức phạm tội ngày càng tinh vi, có tổ chức chặt chẽ, thậm chí có sự tham gia của pháp nhân thương mại. Trong khi đó, các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 về tội danh này đã bộc lộ một số bất cập trong việc định tội danh, lượng hình và giải thích các tình tiết định khung tăng nặng mang tính trừu tượng.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội cưỡng đoạt tài sản; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về tội cưỡng đoạt tài sản, bao gồm khái niệm, lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
  2. Phân tích, bình luận các dấu hiệu pháp lý và quy định về trách nhiệm hình sự đối với tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 BLHS năm 2015, đồng thời phân biệt với các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt liên quan.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong công tác xét xử tội cưỡng đoạt tài sản tại Tòa án nhân dân giai đoạn 2017 – 2021; chỉ ra các vướng mắc, hạn chế, xác định nguyên nhân và đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như các biện pháp bảo đảm áp dụng thống nhất.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận về tội cưỡng đoạt tài sản, hệ thống quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn xét xử tội danh này. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào Điều 170 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cùng các điều luật liên quan; phạm vi không gian là thực tiễn xét xử trên phạm vi cả nước; phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn áp dụng và số liệu xét xử trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu và phòng chống tội phạm.

Hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở phân tích bao gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 32), BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 quy định về tài sản và quyền tài sản), Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 417), Luật Quốc phòng năm 2018 (Điều 2, Điều 18); các văn bản lập pháp lịch sử như Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ, các Sắc lệnh giai đoạn 1945 – 1956, hai Pháp lệnh về xâm phạm tài sản năm 1970, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999; các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Ngoài ra, tác giả sử dụng tư liệu so sánh từ BLHS Liên bang Nga năm 1996 (Điều 163) và BLHS Tây Ban Nha (Điều 245).

Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được sử dụng phối hợp gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm pháp lý, các yếu tố cấu thành tội phạm và thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp lịch sử - cụ thể: Khảo sát sự phát triển của điều luật qua từng thời kỳ lập pháp hình sự Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của BLHS Việt Nam với pháp luật hình sự Nga và Tây Ban Nha nhằm rút ra các giá trị tham khảo.
  • Phương pháp thống kê, đối chiếu và chứng minh: Đánh giá số liệu các vụ án thực tế, các bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân để chứng minh sự bất cập giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.

Nguồn dữ liệu của khóa luận kế thừa từ hệ thống giáo trình đào tạo luật học (Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kiểm sát Hà Nội); sách chuyên khảo bình luận khoa học BLHS của các chuyên gia tư pháp (Đinh Văn Quế, Nguyễn Ngọc Hoà, Trần Văn Luyện...); các công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; cùng các bản án thực tiễn đã có hiệu lực pháp luật (tiêu biểu như Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 05/05/2022 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số vấn đề chung về tội cưỡng đoạt tài sản

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về tội cưỡng đoạt tài sản. Về mặt học thuật, quyền sở hữu dưới góc độ pháp lý bao gồm ba quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Tội cưỡng đoạt tài sản thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015.

Tác giả phân tích các khái niệm cấu thành như "chiếm đoạt" (hành vi cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản thuộc quyền quản lý của chủ sở hữu thành của mình) và "cưỡng đoạt" (chiếm đoạt bằng thủ đoạn cưỡng bức, uy hiếp). Đánh giá định nghĩa của Đinh Văn Quế và các giáo trình luật học, tác giả chỉ ra các định nghĩa hiện hành chủ yếu mô tả hành vi khách quan mà chưa bao quát đầy đủ chủ thể, mặt chủ quan và đối tượng tác động. Từ đó, tác giả đề xuất một định nghĩa khoa học hoàn chỉnh:

"Người nào có hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu tài sản, người có trách nhiệm về tài sản, người khác để người bị đe doạ sợ mà phải giao tài sản cho mình hoặc vì sợ mà để người phạm tội chiếm đoạt tài sản, hoặc vì sợ nên không dám đòi nợ do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản".

Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội cưỡng đoạt tài sản được tổng hợp qua 4 giai đoạn phát triển:

  • Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Quốc triều hình luật (thời Hậu Lê) quy định tại Điều 436 tội "Dọa nạt người để lấy của cải", xử phạt theo tội ăn trộm nhưng giảm một bậc, nếu chưa lấy được của thì xử 60 trượng, biếm hai tư. Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn) ghép tội cưỡng đoạt, cướp giật và công nhiên chiếm đoạt vào Điều 237 với tên gọi "Bạch trú sang đoạt" (sang đoạt giữa ban ngày), phạt 100 trượng, đồ 3 năm.
  • Giai đoạn 1945 đến trước BLHS năm 1985: Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/06/1956 quy định xử phạt từ 5 đến 20 năm tù đối với hành vi phá hoại nhằm cướp bóc tài sản. Đến ngày 21/10/1970, tội danh chính thức được phân hóa rõ tại Điều 9 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (phạt tù 1 đến 7 năm) và Điều 7 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân (phạt tù 3 tháng đến 3 năm).
  • Giai đoạn từ BLHS năm 1985 đến trước BLHS năm 1999: BLHS năm 1985 duy trì hai điều luật độc lập: Điều 130 đối với tài sản XHCN (phạt tù từ 1 đến 5 năm) và Điều 153 đối với tài sản riêng của công dân (phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm).
  • Giai đoạn từ BLHS năm 1999 đến trước BLHS năm 2015: BLHS năm 1999 thống nhất bảo vệ quyền sở hữu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, bãi bỏ sự phân biệt tài sản, sáp nhập thành Điều 135 gồm 5 khoản với khung hình phạt cao nhất lên tới 20 năm tù. Năm 2001, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT ban hành giải thích các tình tiết định khung tăng nặng mang tính định tính.

Về luật học so sánh, chương này phân tích quy định tại Điều 163 BLHS Liên bang Nga năm 1996 và Điều 245 BLHS Tây Ban Nha. Kết quả so sánh giữa pháp luật các nước và BLHS Việt Nam được khái quát qua bảng sau:

Tiêu chí phân tích Pháp luật hình sự Việt Nam (BLHS 2015) Pháp luật hình sự Liên bang Nga (Điều 163 BLHS Nga) Pháp luật hình sự Tây Ban Nha (Điều 245 BLHS Tây Ban Nha)
Kỹ thuật mô tả hành vi Phân loại thành 2 nhóm hành vi khái quát: "đe dọa sẽ dùng vũ lực" và "thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần". Liệt kê chi tiết từng dạng hành vi cụ thể (bắt chuyển nhượng tài sản, đe dọa loan truyền thông tin làm nhục...). Mô tả đơn giản: dùng bạo lực hoặc đe dọa chiếm giữ tài sản hoặc chiếm đoạt quyền tài sản; không đặt tên tội danh riêng.
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Người từ đủ 16 tuổi (mọi trường hợp); người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS ở khoản 2, 3, 4 Điều 170. Quy định người từ đủ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ đối với tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 20). Căn cứ theo quy định chung về trách nhiệm hình sự của hệ thống tư pháp người chưa thành niên.
Mục đích phạm tội Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm cơ bản. Không quy định "chiếm đoạt" là mục đích bắt buộc, mà xem đó là hành vi khách quan đi kèm sự đe dọa. Tập trung vào hành vi chiếm giữ tài sản, chiếm giữ trái phép công trình hoặc quyền tài sản của người khác.
Đối tượng tác động Chỉ bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá; không bao gồm quyền tài sản. Tài sản và các quyền sở hữu đối với tài sản. Bao gồm cả tài sản thực tế và các quyền tài sản (chuyển giao quyền tài sản).
Mức hình phạt cao nhất Phạt tù đến 20 năm (khoản 4 Điều 170). Tình tiết gây thương tích xử lý độc lập theo Điều 134. Phạt tù đến 15 năm (khoản 3). Điểm c khoản 3 quy định tình tiết gây tổn hại nghiêm trọng sức khỏe là tình tiết định khung. Phạt tù từ 1 đến 2 năm, bên cạnh mức phạt tiền từ 3 đến 6 tháng đối với hành vi chiếm giữ bất động sản.

Chương 2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cưỡng đoạt tài sản

Chương 2 tập trung phân tích 4 yếu tố cấu thành pháp lý của tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 BLHS năm 2015:

  • Khách thể: Tội phạm cùng lúc xâm phạm hai khách thể là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu, trong đó quan hệ sở hữu là khách thể chủ yếu. Việc uy hiếp nhân thân chỉ là phương tiện để người phạm tội đạt được mục đích chuyển dịch tài sản. Đối tượng tác động bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá đang có người quản lý, và con người. Theo quan điểm tác giả, quyền tài sản (như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ) không phải là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm này vì việc cưỡng đoạt giấy tờ chứng nhận quyền tài sản không đồng nghĩa với việc xác lập quyền định đoạt hợp pháp trên thực tế.
  • Mặt khách quan: Thể hiện qua hai dạng hành vi:
    1. Đe dọa sẽ dùng vũ lực: Hành vi thể hiện qua lời nói, cử chỉ làm nạn nhân lo sợ sẽ bị dùng bạo lực nếu không đáp ứng yêu cầu. Giữa thời điểm đe dọa và thời điểm dùng bạo lực có khoảng cách về mặt thời gian, nạn nhân vẫn có điều kiện suy nghĩ, lựa chọn cách ứng xử chứ chưa bị tê liệt ý chí hoàn toàn.
    2. Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần: Dọa hủy hoại tài sản; dọa tố giác hành vi sai phạm hoặc phát tán bí mật đời tư (clip, hình ảnh nhạy cảm); vu khống, bôi nhọ người vay nợ trên không gian mạng và các ứng dụng liên kết; giả danh cán bộ công an, quân đội tuần tra đêm để kiểm tra, đe dọa buộc giao nộp tiền. Tội cưỡng đoạt tài sản có cấu thành tội phạm hình thức. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi đe dọa và người bị hại nhận thức được nội dung đe dọa; việc người phạm tội có lấy được tài sản hay chưa không ảnh hưởng đến việc định tội danh.
  • Chủ thể: Là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS với mọi trường hợp. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 170 (tội phạm nghiêm trọng), mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi rơi vào khoản 2, khoản 3 (tội phạm rất nghiêm trọng) hoặc khoản 4 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) theo Điều 12 BLHS năm 2015.
  • Mặt chủ quan: Thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc phải có trong cấu thành tội phạm cơ bản.

Về trách nhiệm hình sự, Điều 170 quy định cụ thể:

  • Khoản 1: Cấu thành cơ bản, khung hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. (Minh họa qua Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 05/05/2022 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An: Bị cáo Đậu Đình T đe dọa đốt nhà, ép chị L viết giấy vay 36.000.000 đồng, chiếm đoạt điện thoại iPhone 6 Plus bán lấy 1.000.000 đồng và viết giấy thanh lý tài sản 13.000.000 đồng, tổng giá trị chiếm đoạt thực tế là 9.500.000 đồng, T bị xử phạt 12 tháng tù).
  • Khoản 2: Khung hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm với các tình tiết định khung: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp (theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP: cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên và lấy đó làm nghề sinh sống, nguồn sống chính); phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu (tác giả kiến nghị xác định là người từ đủ 70 tuổi trở lên và có tình trạng sức khỏe yếu, bệnh tật) hoặc người không có khả năng tự vệ; chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (tình tiết định tính mới có hiệu lực từ 01/01/2018); tái phạm nguy hiểm (Điều 53).
  • Khoản 3: Khung hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; lợi dụng hoàn cảnh thiên tai, dịch bệnh.
  • Khoản 4: Khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
  • Hình phạt bổ sung: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần/toàn bộ tài sản (Điều 45).

Chương 2 cũng phân biệt chi tiết Tội cưỡng đoạt tài sản với Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS). Khác biệt cốt lõi nằm ở mức độ và tính chất của hành vi bạo lực: Tội cướp tài sản dùng vũ lực tấn công trực tiếp hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc khiến nạn nhân tê liệt ý chí kháng cự tại chỗ; còn tội cưỡng đoạt tài sản chỉ là đe dọa sẽ dùng vũ lực tại một thời điểm trong tương lai, hành vi vũ lực không diễn ra ngay lập tức. Ngoài ra, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản ở mọi khung hình phạt, trong khi đối với tội cưỡng đoạt tài sản thì độ tuổi này được miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với khung hình phạt tại khoản 1 Điều 170.

Chương 3. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 trong xét xử các vụ án về tội cưỡng đoạt tài sản

Chương 3 khái quát thực tiễn xét xử tội cưỡng đoạt tài sản giai đoạn 2017 – 2021, chỉ ra các vướng mắc pháp lý nảy sinh trong quá trình giải quyết vụ án:

  • Vướng mắc khi áp dụng các tình tiết định tính trừu tượng: Tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" (điểm đ khoản 2 Điều 170) chưa có văn bản quy phạm dưới luật hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng, dẫn tới việc áp dụng tùy nghi giữa các địa phương. Tương tự, tình tiết "có tính chất chuyên nghiệp" (điểm b khoản 2) hiện vẫn phải áp dụng dựa trên tinh thần Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP vốn đã hết hiệu lực, tạo ra khoảng trống pháp lý chưa được thay thế.
  • Khó khăn trong việc định giá và xác định đối tượng tác động đối với các tài sản công nghệ, dữ liệu số, tài khoản mạng xã hội hoặc các khoản nợ hình thành từ các giao dịch phi pháp (như cho vay nặng lãi với lãi suất trên 500% – 1.000%/năm).
  • Sự lúng túng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc chứng minh ý thức chủ quan của người phạm tội đối với các tình tiết như "biết nạn nhân là phụ nữ có thai" hoặc đánh giá dấu hiệu "người già yếu".

Từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan, tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp:

  1. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật: Ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 170, đặc biệt là tiêu chí xác định "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", độ tuổi và tình trạng của "người già yếu", tiêu chuẩn áp dụng tình tiết "có tính chất chuyên nghiệp"; nghiên cứu mở rộng nội hàm đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm sở hữu đối với quyền tài sản trong bối cảnh chuyển đổi số.
  2. Giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật: Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên; tăng cường cơ chế phối hợp giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra ngay từ giai đoạn thụ lý nguồn tin báo tội phạm cưỡng đoạt qua không gian mạng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật và cảnh báo các thủ đoạn cưỡng đoạt tài sản công nghệ cao trong nhân dân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm sáng tỏ quá trình phát triển của chế định lập pháp về tội cưỡng đoạt tài sản trong lịch sử pháp luật Việt Nam qua các mốc thời gian: Bộ luật Hồng Đức (thế kỷ XV), Luật Gia Long (1815), Sắc lệnh số 267/SL (1956), Pháp lệnh năm 1970, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015.
  • Phân tích và chỉ rõ các điểm tương đồng, dị biệt có giá trị khoa học thông qua so sánh Điều 170 BLHS 2015 với Điều 163 BLHS Liên bang Nga (về cấu thành mục đích, độ tuổi chịu TNHS 14 tuổi, bổ sung tình tiết gây hại sức khỏe) và Điều 245 BLHS Tây Ban Nha (về việc coi quyền tài sản là đối tượng tác động, hành vi bạo lực trực tiếp).
  • Trích xuất và giải quyết các vụ việc thực tế điển hình:
    • Vụ triệt phá đường dây đòi nợ lãi suất 540%/năm bằng thủ đoạn tạt sơn, mắm tôm tại TP. Hồ Chí Minh (ngày 31/12/2023).
    • Vụ án tống tiền 130.000.000 đồng bằng clip nhạy cảm tại quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng (ngày 07/11/2023).
    • Vụ án giả danh công an hình sự tuần tra đêm cưỡng đoạt tài sản trên Quốc lộ 51 do VKSND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố.
    • Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 05/05/2022 của TAND huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù đối với Đậu Đình T về hành vi cưỡng đoạt số tài sản trị giá 9.500.000 đồng.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học mới về tội cưỡng đoạt tài sản; hệ thống hóa các tiêu chí phân định tội cưỡng đoạt tài sản với tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản dựa trên yếu tố thời gian của sự đe dọa và khả năng kháng cự của nạn nhân.
  • Đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể nhằm bãi bỏ các vướng mắc khi áp dụng văn bản hướng dẫn đã hết hiệu lực (Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP) và định lượng hóa các tình tiết định tính tại khoản 2 Điều 170 BLHS năm 2015.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận là công trình nghiên cứu ở cấp bậc cử nhân luật học, nguồn dữ liệu thống kê xét xử thực tiễn tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2017 – 2021. Do giới hạn về mặt thời gian và khả năng tiếp cận các bản án chưa công khai, một số dữ liệu phân tích tại Tòa án các cấp chưa bao quát toàn bộ các địa bàn đặc thù trên cả nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là mở rộng phạm vi khảo sát số liệu xét xử từ năm 2022 đến nay; tập trung nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, cũng như các dạng hành vi cưỡng đoạt tài sản thông qua công nghệ tài chính xuyên biên giới, tiền ảo và các tài sản phi truyền thống trong thời kỳ công nghệ số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo phục vụ học tập và nghiên cứu cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự tại các cơ sở đào tạo luật.

Đối với các cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán), công trình cung cấp các phân tích pháp lý hữu ích về kỹ thuật nhận diện hành vi phạm tội, giải quyết tranh chấp trong việc định tội danh giữa tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản, cùng hệ thống các căn cứ đánh giá tình tiết định khung tăng nặng theo Điều 170 BLHS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản do tác giả đề xuất có điểm gì mới so với các định nghĩa trong giáo trình hiện hành?
Tác giả đã bổ sung đầy đủ các yếu tố cấu thành bị khuyết thiếu trong định nghĩa của các giáo trình trước đây, bao gồm: xác định cụ thể đối tượng bị tác động gồm chủ sở hữu, người có trách nhiệm về tài sản hoặc người khác; làm rõ các hệ quả của sự lo sợ (giao tài sản, để người phạm tội chiếm đoạt, hoặc không dám đòi nợ); xác định rõ chủ thể phải có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi luật định, thực hiện với lỗi cố ý và bắt buộc có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản không?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 và Điều 170 BLHS năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với cấu thành cơ bản tại khoản 1 Điều 170 (loại tội phạm nghiêm trọng). Độ tuổi này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 (tội phạm rất nghiêm trọng) hoặc khoản 4 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) Điều 170 BLHS năm 2015.

Điểm mấu chốt để phân biệt Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170) với Tội cướp tài sản (Điều 168) là gì?
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở hành vi đe dọa dùng vũ lực: Tội cướp tài sản có hành vi đe dọa dùng vũ lực "ngay tức khắc" khiến nạn nhân lâm vào tình trạng bị tê liệt ý chí và không thể chống cự được tại chỗ. Trong khi đó, ở tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa là "sẽ dùng vũ lực" trong tương lai; giữa thời điểm đe dọa và khả năng thực hiện vũ lực có khoảng cách về mặt thời gian, nạn nhân vẫn còn điều kiện và khả năng cân nhắc, lựa chọn cách ứng xử.

BLHS Liên bang Nga quy định khác biệt như thế nào về mục đích phạm tội so với BLHS Việt Nam?
Điều 163 BLHS Liên bang Nga không xem mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc để định tội danh mà xác định đó là một dạng hành vi khách quan đi kèm sự đe dọa, mục đích phạm tội là "gây ra tổn hại đáng kể cho các quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân hoặc người thân nạn nhân". Ngược lại, BLHS Việt Nam năm 2015 coi mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản; nếu đe dọa uy hiếp tinh thần nhằm mục đích khác thì không cấu thành tội danh này.

Tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" tại Điều 170 BLHS năm 2015 hiện gặp vướng mắc gì trong áp dụng?
Vướng mắc phát sinh do Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (hướng dẫn người phạm tội cố ý từ 5 lần trở lên, lấy đó làm nghề sinh sống và nguồn sống chính) hiện đã hết hiệu lực nhưng chưa có văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế. Trong thực tiễn xét xử, Tòa án vẫn phải dựa trên tinh thần của văn bản cũ này để tham khảo, tạo nên sự thiếu thống nhất về mặt căn cứ pháp lý.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Loan đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận, lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế về tội cưỡng đoạt tài sản, đồng thời phân tích sâu sắc các dấu hiệu pháp lý theo Điều 170 BLHS năm 2015. Thông qua các vụ án thực tế và số liệu xét xử giai đoạn 2017 – 2021, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng mang tính trừu tượng và các vướng mắc phát sinh trước sự biến tướng của tội phạm công nghệ cao. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp hình sự cũng như hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân.