CHƯƠNG 1.MOT SÓ VÁN ĐÈ CHUNG VE TOI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SAN 1. Khainiém tộicưỡng đoạt tài sàn trong pháp luật hình sự Việt Nam Sở hữu là một pham trủ rộng là đối tương nghiên cửu chủ yêu của các ngành khoa học như kinh tê, triết học và luật học. Trong khoa hoc kinh tế, sở hữu được tiếp cận dưới giác đô của một pham trù kinh té - chính trị có nội ham là mì ôi quan hệ giữa người với người trong tô chức sản xuất xã hội. Trong khi đó các triết gia coi sở hữu như một mat quan trong của quan hé san xuất, gắn liền với một hình thái kinh tê - xã hội nhất định! Điêu dng chủ ý, trong khoa học luật, sở hữu được nghiên cứu, tiệp cận đưới góc độ quan hệ pháp lý về tài sản Theo quy định tại Điêu 32 Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cái dé dành, nhà ở, hr liệu sinh hoạt.
tư liệu san xuất, phẩn vốn gop trong doanh nghiệp hoặc trong các 6 chức kinh tế khác. Quyên sở hữm tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”. Dé bão vệ quyên sở hữu của cá nhân, tô chức, bảo vệ sự Gn định, phát triển của nền. kinh tế, sở hữu đã được luật hoá trở thành quan hệ sở hữu (quan hệ giữa người với người đối với tài sản) thể hiện quyên sở hữu của chủ sỡ hữu về tai sản bao gồm: quyền.
chiêm hữu, sử đụng, quyền định đoạt. Bên canh đó Nhà nước cũng sử dung các biên pháp, các công cụ khác nhau trong do biên pháp nghiém khắc nhật là sử dụng pháp luật hình sự- quy đính những hành vi nguy hiém đáng kề cho xã hội xâm phạm quyên sở hữu là tội phạm và các biện pháp cưỡng. ché hình sự đổi với người thực hiện tội pham đó. Theo luật hình sự Việt Nam, các tôi xâm pham sở hữu được quy đính trong Chương XVI của BLHS năm 2015, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có ý hoặc vô ý xâm phạm đến chê dé sở hữu tài sin của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân và sự xâm hại này thé biện day đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội Một hành vi cũng gây thiệt hại hoặc de doa gây thiệt hai cho quan hệ sở hữu.
nhưng sẽ không phải là tội xâm phạm sở hữu nêu hành vi này dang thời còn gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội khác và sự gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đó mới thê hiện được đây đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Chẳng hen, co một số hành vi khác cũng xâm pham quyên sở hữu nhưng tài sản đó lại là đôi tượng “NCS. Nguyễn Qang Đức, “Cơ sở hàh thành dé độ sở Hữn trang HÉngbíp!, Tap chi Nghiên của lập php, s 19/3711 tháng. 2 Trường Đạihọc Luật Ha Nội. Giáo rảnh Tuật hinh sự Vide Mim, Phần các tối phợn, quyeu 1, Neb.
của tội phạm khác như công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các loại vũ khí quân dụng vật liệu nỗ, ma tuý, tau bay. thì bị truy cứu trách nhiém hình sự về các tội được quy đính tại Chương XVI như: Tội tham 6 tai sản (Điều 353 BLHS), Tội lam dung chức vụ, quyên hạn chiêm đoạt tài sản Điều 355 BLHS) thuộc ChươngXXIIIC ác tôi pham về chức vụ, tôi chiếm đoạt chat ma tuý (Điều 252 BLHS), tội chiêm đoạt tiền chất ding vào việc sản xuất trái phép ma tuý (Điều 253 BLHS) thuộc Chương XX các tôi pham về ma tuý. Trường hợp này khách thê (trực tiếp) không phải là quan hệ sở hữu, ngoài việc xâm hại đền khách thé là quyên sở hữu thi các tội phạm nêu trên thì các khách thê khác có tính chất quan trong và đặc trưng hơn Tôi cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 170 BLHS năm 2015 thuộc nhom các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiêm. Dé hiểu rõ về khái niém của tôi cưỡng đoạt tai sẵn thi cân tim hiểu và phân tích các thuật ngữ pháp lý có liên quan như “chiếm đoạt", "cưỡng ẩoaf'.
Trơng khoa học luật hình sự, “chiếm đoạt được hiểu là hành vi cỗ ý: dich chuyển trái pháp luật tài sản dang thuộc sự quan If của chit tài sản thành của minh”, “Cưỡng đoạt", theo từ dién Tiêng V iật thì “cưỡng”là “bắt áp người khác làm điều mà người ta không muốn làm “, “cưỡng đoạt”1à “chiếm đoạt bằng lỗi cưỡng bức“, “cưỡng bức" là “dimg vii lực hoặc thit đoạn dén người khác vào thé bắt buộc phải làm, dit không muốn cũng không duoc’. Dưới góc độ khoa học hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội cưỡng dost tai sản: Theo giáo trình Luật hinh su Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2022 thì tội cưỡng đoạt tài sản được định nghĩa: “Tôi cưỡng đoạt tài sản được quy đính là hành vi đe doa sẽ ding vii lực hoặc có thit đoạn khác uy hiếp tinh than người khác nhằm chiếm đoạt tài sản"5. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Dai học Luật TP Hồ Chí Minh do Nhà xuất ban Hông Đức xuất bản năm 2021 thi tôi cưỡng đoạt tai sản được hiểu là: “Cưỡng đoạt tài sản là hành vi de doa sẽ dimg vii lực hoặc có thí doan khác uy hiếp tinh than người khác nhằm chiếm đoạt tài sản 'ố. Trường Đạihọc Luật Ha Nội, Giáo oh Luéer kink sự Vide lăn, Phấn các tối pm quyển 1, Nếo.
+ Đố Vin Clang, “Toi cuống đoạt tài sẵn trang tp nit uth sự Vt Nun", Jadn vu thac st Lut hoc, He Nội tr 13. * Trưởng Daihoc Luật Ha Nội, Giáo đinh Tuật kh sự Vide Mim, Phin các tối phun quyén 1. + Trường Đạihọc Luật TP. Hồ Chí Mah, Giáo ờià luật nh sự Mật Nam, Phấn các tôi pham, quyến 1, NGb, Hồng Đức, 2021, tr193.
Theo tác gia Dinh V ăn Quê: “Cưỡng đoạt tài sản là hành vi de doa sẽ dimg vii lực hoặc có thit doan khác uy hiếp tinh thần người khác dé người bi de doa sợ mà phải giao tài san cho mình hoặc vì sơ mà dé người phạm tôi chiếm đoạt tài sản, hoặc vì so nên không dam đồi no". Tội cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 BLHS năm 2015: “Người nao de doa sẽ dimg vii lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh than người khác nhằm chiêm đoạt tài san." Các cách hiểu trên khác nhau về lối diễn dat nhưng đều có sự thống nhật rang cưỡng đoạt tài sản là hành vi de doa sé dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiệp tinh thân người khác nhằm mục đích chiêm đoạt tai sân Tác gia đánh giá cao định nghĩa mã tác giá Định V ăn Quê dua ra đã làm rõ được đặc trưng cơ bản của tôi cưỡng đoạt tài sản: Thứ nhất, nhân menh người pham tôi đã có hénh vi uy hiếp tinh thân của người có trách nhiệm về tai sản lam cho người có trách nhiém về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho người phạm tội hoặc vì sợ mà để người phạm tdi chiêm đoạt tài sản, hoặc vì sợ nên không đám đời. Thứ hai, xác đính được thời điểm tôi phạm hoàn thành Hành vi de doa sẽ dùng vũ lực không xây ra ngay tức khắc. Hành vi de doa sẽ ding vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thân được ding trước thời điểm bị hại giao hoặc không giao tài sản.
Tôi pham hoàn thành khi người phạm tdi có hành vi đe doa sẽ dung vũ lực hoặc thủ đoạn. khác uy hiếp tinh thân đối với bi hai và bi hai biết về hành vi đó của người phạm tôi, hậu quả không phi là yêu t6 bắt buộc dé đính tội. Tuy nhiên, các quan điểm vệ tôi cưỡng đoạt tài sản nêu trên chỉ tập trung vào hành vi khách quan của tội phạm, bỏ qua những yêu tô khác về chủ thé, mặt chủ quan. của tội phạm.
Từ những phân tích trên tác giả khoá luận xin tiép thu những điểm tiền bô, hop lý trong các khái niệm về tôi cưỡng đoạt tai sản và xin bỗ sung các nhân tổ mới ma tác giả thay cân thiết dé đóng góp thêm một khái niêm về tội cưỡng đoạt tai sản nhw sau: “Người nào có hành vi de doa sẽ dimg vũ lực hoặc thi đoạn khác wy hiếp tinh thân của chit sở hitu tài sản. người có trách nhiệm về tài sản, người khác dé người bi > Bink Vin Qué, Bình Jad Bộ Mật Hfnh sự wit 2015, Phẩn thú hat các tội phame, Chương XVIvác tội pm xin phon 56 Ni, NÓ, Thingtava Truyền hệng, Ha Nội 2019, tr 118. de doa sơ mà phải giao tài sản cho minh hoặc vì soma để người pham tội chiễm đoạt tài sản, hoặc vì sợ nên không dám đòi nợ do người có năng lực trách nhiệm hình sự và dit đồ tudi luật định thực hién với lỗi cổ ý nhằm muc đích chiếm đoạt tài san”. Khái quát lich sử lập pháp hình sự Việt Namve tội cưỡng đoạt tài sản 1.
Giai doan trước Cách mang thang Tam trăm: 1945 Dưới góc độ nghiên cứu về lịch sử lập phép tôi cưỡng đoạt tai sản giai đoạn trước Cách mangtháng Tám năm 1945 sẽ chỉ tập trung nghiên cứu hai bộ luật thành văn quan trong nhất trong lich sử các vương triệu phong kiên V iệt Nam 1a Quốc triệu Hình luật (hay Bộ luật Hong Đức, Lê triệu Hình luật) của nhà Lê và Hoàng V :ệt luật 18 của nhà Nguyen. * Quốc triều Hình luật (hay Bộ nat Hong Đức; Lê triều Hìuh luật): Quốc triều Hình Luật (hay Bộ luật Hong Đức, Lê triều Hình luật ra đời vào giữa thê kỷ XV, trong triều dai nhà Hau Lê, đã trả: qua một quá trình xây dung lau dai từ thời Lê Thái Tổ, đền thời Lê Thánh Tông mới hoàn thành. Bộ Luật Hồng Đức còn lại biện nay (đã được các triều vua thời Lê Trung Hung bổ sung thêm) gém 13 chương 722 điều, chia làm 6 quyên. Tại chương 8: Chương Dao tặc (gồm 54 điều) đã đưa ra rat nhiêu điêu luật quy đnh về các tôi xâm phạm sở hữu quy định từ Điều 430 đến Điều 448° theo đối tượng tác đông của tôi phạm, theo chủ thé của tôi phạm.
hoặc theo nhân thân người phạm tội và theo hoàn cảnh phạm tội. Các dâu hiệu của Ti cưỡng đoạt tài sản đã được Bộ luật Hồng Đức đưa ra tại Điêu 436 quy định về tôi Doa nat người dé cướp của đoạt của cải: “Doa nat người dé lắp của thì khép vào tôi ăn trém mà giảm một bậc.