CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN TRONG KHI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ Như chúng ta đã biết theo quy định của BLHS Việt Nam, các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện không chỉ bao gồm các tội phạm về chức vụ mà còn bao gồm các tội phạm được quy định ở các chương khác. Mặt khác, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện cho thấy còn gặp những khó khăn vướng mắc nhất định; một số quy định của PL về vấn đề này còn trừu tượng, chung chung, khó giải thích, khó áp dụng nhất là trong tình hình xã hội hiện nay đã có nhiều sự chuyển biến, thay đổi trên các phương diện khác nhau, nhiều lĩnh vực đã được xã hội hóa (những công việc trước đây chỉ có NN đảm trách giờ đã được giao cho nhân dân cùng làm)… Để hiểu rõ khái niệm về “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ như: “lợi dụng”, “chức vụ”, “quyền hạn”, “công vụ” và cần làm rõ khái niệm “người có chức vụ”, “lợi dụng chức vụ để phạm tội”. Theo Từ điển Hán Việt thì thuật ngữ “lợi dụng” được hiểu là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để làm việc gì (sẽ dễ thành công); “chức vụ: việc trong chức phận mình phải làm”; “quyền hạn: giới hạn của quyền lực hoặc quyền lợi” và “công vụ: chức việc của nhà quan” [74].
Trong các thuật ngữ này thì thuật ngữ “công vụ” chính là thuật ngữ khó đạt được sự đồng thuận nhất. Tuy nhiên, về cơ bản thì đa số các quan điểm khoa học đều thống nhất rằng công vụ là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức hoặc những người được NN trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN, phục vụ nhân dân. Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực NN. Nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội.
Do đó, khái 7 niệm chuẩn xác nhất trong trường hợp này cần phải được hiểu và được xây dựng trên nền tảng khoa học pháp lý. Hoạt động công vụ theo Điều 2 LCBCC 2008 “là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của luật này và các quy định khác có liên quan”[49]. Cán bộ, công chức khi tham gia hoạt động công vụ phải tuân thủ các nghĩa vụ và có trách nhiệm thực hiện đúng quyền hạn được giao. Thông thường thì nghĩa vụ và quyền hạn này được quy định trong các văn bản PL.
Trong lĩnh vực hình sự thì PL quy định chỉ có những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong LHS đang có hiệu lực tại thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm xem xét, xử lý hành vi đó mới được coi là tội phạm. “Người có chức vụ”, theo Điều 277 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) quy định: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ”[43] và theo khoản 2 Điều 352 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), có hiệu lực từ ngày 01.2018 thì: “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”,[44].Theo khái niệm này, có rất nhiều căn cứ khác nhau để xác định một người có chức vụ như do được bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác… Hình thức khác ở đây có thể hiểu là bất cứ hình thức nào mà gắn những quyền năng nhất định của chủ thể với chức vụ mà họ có. Như vậy, trong khái niệm này theo học viên “Người có chức vụ” có thể được hiểu một cách ngắn gọn là “người được giao thực hiện công vụ (mang tính chất hợp pháp) và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ đó”. Chẳng hạn như: Cán bộ địa chính UBND phường được giao khảo sát quỹ đất của phường; kế toán và thủ quỹ được giao nhiệm vụ theo dõi lập hồ sơ quyết toán các khoản ngân sách, làm thủ tục rút dự toán ngân sách tại kho bạc NN để chi trả lương cho cán bộ, công chức, viên chức và cho các hoạt động khác của cơ quan, đơn vị; bác sĩ được giao nhiệm vụ khám sức khoẻ để tuyển dụng cán bộ, viên chức; thủ kho được giao nhiệm vụ quản lý kho hàng của công ty… Tất cả những người này đều được coi là người có chức 8 vụ bởi vì họ được giao thực hiện công vụ vì lợi ích chung của toàn xã hội và có những quyền năng nhất định trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao.
“Lợi dụng chức vụ để phạm tội”: Người có chức vụ chỉ trở thành chủ thể của tội phạm khi họ đã lợi dụng chức vụ được giao để phạm tội. Chức vụ luôn gắn với những quyền năng nhất định, người có chức vụ có quyền được quyết định những công việc có liên quan đến lợi ích chung của xã hội. Chính vì vậy, chỉ có thể coi một người lợi dụng chức vụ để phạm tội khi họ cố ý gây thiệt hại đến lợi ích chung của cộng đồng…; Còn trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, nếu người đó không gây thiệt hại đến lợi ích chung của cộng đồng mà lại gây thiệt hại đến lợi ích của chính bản thân mình thì không được coi là lợi dụng chức vụ để phạm tội không. Ví dụ như thủ quỹ và kế toán của công ty cấu kết với nhau dùng công quỹ để mua hàng hóa nhằm bán kiếm lời nhưng bị lỗ và thâm hụt quỹ của công ty thì họ bị coi là đã lợi dụng chức vụ để phạm tội.
Nhưng nếu thủ quỹ và kế toán cùng nhau hùn vốn của riêng họ để mua hàng hóa bán kiếm lời nhưng bị lỗ thì những thiệt hại xảy ra họ phải gánh chịu và hành vi của họ không bị coi là tội phạm. Xác định thế nào là người có chức vụ và việc lợi dụng chức vụ để phạm tội là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa trong việc xác định tội danh và truy cứu TNHS của các cơ quan tiến hành tố tụng. Có thể nói, việc lợi dụng chức vụ để phạm tội là một tình tiết định khung tăng nặng đồng thời còn được xác định là tình tiết tăng nặng TNHS vì nó đã làm tăng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội. Đây là loại tội phạm dễ dàng gây hậu quả thiệt hại cho xã hội do những người có chức vụ thực hiện nên có điều kiện để thực hiện tội phạm mà những người khác không thể thực hiện được.
Mặt khác, việc thực hiện tội phạm của những người có chức vụ có thể gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, làm giảm uy tín của NN, của tổ chức… đối với các tầng lớp nhân dân, loại tội phạm này thông thường khó phát hiện, xử lý, tỷ lệ tội phạm ẩn là khá cao. Với vai trò là công cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS Việt Nam đã xây dựng được những quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý cho việc xác định tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện. Trong số hơn 30 tội danh có yếu tố lợi dụng chức vụ để phạm tội, có những tội phạm mà trong CTTP của nó đã chỉ rõ ở mặt khách quan của tội phạm về chức vụ như tội tham ô 9 tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài … Còn các tội phạm khác tuy không chỉ rõ hành vi phạm tội do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong cấu thành tội phạm cơ bản nhưng khi phân tích bản chất của hành vi phạm tội qua các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể thì dấu hiệu này được xác định trong yếu tố chủ thể của tội phạm như hành vi buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái PL, làm sai lệch kết quả bầu cử, tội đăng ký kết hôn trái PL. Mặt khác, trong cấu thành tăng nặng của tội phạm của một số tội danh cũng quy định tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” được coi là tình tiết định khung tăng nặng như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tội vu khống; tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật… Tuy nhiên, cần lưu ý ở một số tội phạm cụ thể, tình tiết định khung “lợi dụng nghề nghiệp để phạm tội” dễ bị gây hiểu lầm cũng là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” bởi vì chức vụ, quyền hạn bao giờ cũng gắn với một công việc cụ thể, một nghề nghiệp nhất định.
Nhưng cần phải lưu ý rằng, người lợi dụng nghề nghiệp để phạm tội chưa chắc đã là người có chức vụ mà việc phạm tội này chỉ gắn với công việc mang tính chất chuyên môn của họ như bác sỹ cố tình không cứu chữa bệnh nhân dẫn đến hậu quả nạn nhân chết (điểm k, khoản 1, Điều 93 BLHS 1999), hay bác sỹ lợi dụng nghề nghiệp cố ý truyền HIV cho người khác (điểm d, khoản 2, Điều 118 BLHS 1999). Như vậy, người lợi dụng chức vụ để phạm tội phải là người có chức vụ, họ được giao thực hiện một công việc liên quan đến lợi ích của cộng đồng và đã sử dụng chức vụ được giao để thực hiện tội phạm. Cùng là người bác sỹ nêu trên, nếu họ chỉ đơn thuần thực hiện chức năng khám chữa bệnh cho mọi người thì họ không được coi là người có chức vụ mà chỉ được coi là người có nghề nghiệp, nhưng nếu họ được trưng dụng để thực hiện nhiệm vụ khám sức khoẻ tuyển dụng vào biên chế cho cán bộ nhân viên một công ty nào đó thì họ lại trở thành người có chức vụ, người có quyền quyết định một vấn đề nào đó liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng.