CHƯƠNG 1 CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 1.1 Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật Việt Nam 1.1 Khái niệm về tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em 1.1 Khái niệm trẻ em Để làm rõ khái niệm tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em, việc tìm hiểu khái niệm trẻ em có ý nghĩa nhận thức lý luận và thực tiễn quan trọng đối với công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này. Trẻ em, đó là khái niệm dùng để chỉ giai đoạn phát triển đầu tiên của cuộc đời con người. Theo Điều 1 Công ước của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em được thông qua ngày 20/10/1989 tại Viên (áo) và có hiệu lực ngày 02/9/1990 thì “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Các quốc gia trong đó có Việt Nam, đã phê chuẩn Công ước này đều phải tuân thủ theo quy định về tuổi trẻ em là người dưới 18 tuổi.
ở Việt Nam, chưa có sự quy định thống nhất về độ tuổi của trẻ em và người chưa thành niên. Việc định nghĩa về trẻ em được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau. Điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “trẻ em được quy định trong luật này là công dân dưới 16 tuổi”. Luật Lao động quy định: “trẻ em là người dưới 15 tuổi”.
Theo quy định ở chương X Bộ Luật hình sự (BLHS) năm 1999 thì “người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi”. Còn khi nói đến các tội xâm phạm tình dục trẻ em, luật quy định “trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Trong các văn bản quy định quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam (được quy định trong Hiến pháp, Luật Hôn nhân gia đình, Luật Quốc tịch thể hiện trong các chế định quyền bầu cử, ứng cử, nghĩa vụ quân sự, quyền kết hôn, tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thì giới hạn độ tuổi “trẻ em là dưới 18 tuổi”. 6 Như vậy, trong hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta còn có sự thiếu thống nhất về giới hạn độ tuổi trẻ em.
Tuy nhiên, trong các văn bản đó đều thống nhất thừa nhận một vấn đề, đó là trẻ em là lứa tuổi luôn được và cần được chăm sóc và bảo vệ, luôn là đối tượng cần được xã hội dành cho sự giáo dục toàn diện và tạo điều kiện tốt nhất để phát triển cả về thể chất và nhân cách. Để có cơ sở cho việc đưa ra một khái niệm về trẻ em, trước hết chúng ta cần khái quát một số đặc điểm đặc trưng của trẻ em là: - Về độ tuổi: mặc dù Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em nêu rõ: “trẻ em là người dưới 18 tuổi” nhưng trong giải thích Công ước có lưu ý: tùy từng quốc gia mà có thể quy định độ tuổi trẻ em có thể là thấp hơn; nhưng các nước đều phải thống nhất chung là dưới 18 tuổi; nghĩa là việc quy định độ tuổi thấp hơn tuỳ thuộc vào lịch sử, tập quán, điều kiện phát triển thực tế của mỗi quốc gia. Mức độ tuổi trẻ em không quy định quá 18 tuổi. - Về mặt xã hội: trẻ em là một lực lượng đông đảo trong xã hội, là lớp người kế tục sự nghiệp của thế hệ đương thời.
Tương lai của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự giáo dục, chăm sóc trẻ em. Trẻ em có trở thành chủ thực sự cho sự nghiệp phát triển xã hội hay không phụ thuộc vào việc nó được chuẩn bị như thế nào. Gia đình, nhà trường, xã hội tác động như thế nào, tiếp thu những kinh nghiệm nào… phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm và sự gương mẫu trong mọi hành vi, hoạt động của thế hệ những người đi trước. Do đó, trẻ em có quyền được hưởng những quyền hợp pháp của mình và có quyền đòi hỏi ở người lớn sự bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, giúp đỡ.
Mọi thiếu sót trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em đều có thể dẫn đến những hậu quả trên nhiều mặt, mọi sự xâm hại đến quyền lợi của trẻ em đều đáng bị lên án. - Về phát triển sinh lý: giai đoạn tuổi trẻ là giai đoạn xác lập, phân định và hoàn thiện dần các chức năng sinh lý của các cơ quan trong cơ thể, do đó có những biến động trong quá trình phát triển. Vì vậy, xã hội cần phải đảm bảo những điều kiện thuận lợi nhất, trước hết là điều kiện sinh hoạt vật chất và giáo dục, hướng cho sự phát triển hài hoà, cân đối, khơi dậy những tiềm năng sẵn có để mỗi đứa trẻ có thể phát huy những thế mạnh về mặt sinh học trong sự phát triển sau này. 7 - Về tâm lý: những gì mà trẻ có được trong tâm lý trẻ là do quá trình tiếp thu lĩnh hội từ bên ngoài, trong môi trường sống của nó để hình thành những phẩm chất tâm lý nói chung và nhân cách nói riêng.
Trong giai đoạn này nếu người lớn bỏ mặc cho trẻ tự phát triển sẽ dẫn đến chỗ tâm lý phát triển tiêu cực, phiến diện, nhân cách hình thành và phát triển chậm chạp, bị các nét tâm lý lệch lạc chèn ép có ảnh hưởng rất nguy hiểm cho giai đoạn người chưa trưởng thành, nếu người lớn áp đặt hoặc xâm hại một cách thô bạo lên các em sẽ dẫn đến sang chấn tâm lý, hậu quả khôn lường, bắt chước hoặc tiến hành những việc làm tò mò của người lớn. Từ những đặc điểm về độ tuổi, về tâm, sinh lý và đặc điểm về mặt xã hội, căn cứ pháp luật Quốc tế và pháp luật hiện hành ở nước ta như đã phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về trẻ em như sau: “Trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, ở độ tuổi dưới 16”1. Quy định này phù hợp với Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và quy định của Bộ Luật Hình sự về độ tuổi của trẻ em như tại các điều về tội Hiếp dâm trẻ em, Giao cấu với trẻ em, Cưỡng dâm trẻ em và Dâm ô đối với trẻ em.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm tình dục trẻ em * Khái niệm tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em Để đưa ra được khái niệm như thế nào là tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm xâm phạm, xâm phạm tình dục trẻ em là gì? Theo từ điển Tiếng việt của Viện ngôn ngữ học thì khái niệm “xâm phạm” nếu hiểu với nghĩa động từ là “động chạm đến quyền lợi của người khác”. Theo đó, chúng ta có thể hiệu xâm phạm tình dục trẻ em là hành vi cưỡng bức hoặc lợi dụng sự phát triển chưa hoàn thiện về thể chất và trí tuệ của trẻ em để xâm phạm về danh dự, nhân phẩm, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tình dục cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của trẻ em.
Vậy, tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em là gì? 1 Trần Phương Đạt(2005), Phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em ở Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, tr. 8 Khi nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học, thì tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em chỉ một nhóm tội bao gồm nhiều tội phạm cụ thể, xâm phạm tới một loại đối tượng con người cụ thể thuộc lứa tuổi trẻ em. Trong luật Hình sự Việt Nam không đặt ra một chương hay điều riêng về tội xâm phạm tình dục trẻ em. Vì vậy, để làm rõ khái niệm này chúng ta phải xuất phát từ quy định của Bộ Luật Hình sự về tội phạm.
Theo Điều 8 BLHS 1999 thì: “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lợi ích khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em như sau: “Tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, đến sự phát triển bình thường về tình dục của trẻ em”. Đây là khái niệm chung chỉ tất cả những hành vi nguy hiểm xâm phạm đến những khách thể khác nhau được luật hình sự bảo vệ mà có liên quan đến sự phát triển bình thường về tình dục của trẻ em. Trước khi BLHS năm 1985 ra đời, thì chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào quy định một cách có hệ thống và đầy đủ về các tội xâm phạm tình dục trẻ em.
Trong Quốc triều Hình luật tuy đã dành hẳn một chương để quy định về các tội “thông gian” trong đó có tội hiếp dâm và hình phạt đối với người phạm tội “hiếp dâm thì xử tội lưu hay tội chết và phải nộp tiền tạ hơn tiền tạ về tội gian dâm thường một bậc; nếu làm người đàn bà bị thương thì xử tội nặng hơn tội đánh người bị thương một bậc. Nếu làm người đàn bà bị chết thì điền sản kẻ phạm tội phải trả cho nhà người bị chết”. Như vậy, ở thời điểm này các nhà làm luật cũng đã ý thức được sự nguy hiểm của tội hiếp dâm và 9 đã quy định một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của người phụ nữ. Tuy nhiên, BLHS nhà Lê lại chỉ quy định chung chung mà không phân chia thành các điều luật xâm phạm tình dục cụ thể cho những đối tượng cụ thể.
Đến Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 cũng chỉ quy định về tội hiếp dâm thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người.