Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật học của tác giả Nguyễn Thị Hướng (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023, người hướng dẫn khoa học: Nông Thị Thoa) tiếp cận vấn đề bạo lực gia đình (BLGĐ) đối với trẻ em từ góc độ pháp lý và thực tiễn thi hành. Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ xuất phát từ mâu thuẫn giữa vai trò lý tưởng của gia đình và hiện trạng xâm hại trẻ em trong đời sống. Gia đình là tế bào của xã hội, môi trường nuôi dưỡng và chỗ dựa đầu đời của trẻ nhỏ, nhưng thực tế lại đang là nơi diễn ra nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng. Dẫn chứng từ số liệu của Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cho thấy, số vụ bạo lực trẻ em do chính người thân trong gia đình gây ra chiếm tới 65,88%. Theo số liệu của Bộ Công an năm 2020, trong gần 2.000 vụ bạo hành trẻ em bị phát hiện, có tới 97% số vụ mà thủ phạm là người thân, quen với nạn nhân. Đặc biệt, trong quý I năm 2022, Tổng đài 111 đã hỗ trợ, can thiệp 502 ca, trong đó số ca trẻ em bị bạo lực là 323 ca (tăng 83,4% so với cùng kỳ năm 2021). Những số liệu này phản ánh tính chất phức tạp, dã man của vấn nạn và đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xem xét lại hệ thống quy phạm pháp luật cũng như hiệu quả thực thi.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là tìm hiểu các vấn đề lý luận về bạo lực gia đình đối với trẻ em, rà soát hệ thống quy định pháp luật hiện hành (đặc biệt trong bối cảnh Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 vừa được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/07/2023), phân tích thực trạng diễn biến bạo lực và công tác can thiệp, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ngăn chặn.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả phân định thành 3 nội dung cụ thể:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về phòng, chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) đối với trẻ em theo các quy định hiện hành và tổng kết kinh nghiệm PCBLGĐ đối với trẻ em của một số quốc gia trên thế giới.
- Phân tích các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến công tác PCBLGĐ đối với trẻ em tại Việt Nam.
- Phân tích tình hình bạo lực gia đình đối với trẻ em hiện nay và thực trạng thực thi công tác PCBLGĐ; đánh giá những mặt đạt được, những mặt hạn chế của công tác này; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ bạo lực gia đình đối với trẻ em.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm: các hành vi bạo lực đối với trẻ em do thành viên gia đình thực hiện; các quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác PCBLGĐ đối với trẻ em; các vụ việc điển hình và thực tiễn thi hành công tác PCBLGĐ tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hành vi bạo lực của các thành viên gia đình đối với đối tượng là trẻ em (người dưới 16 tuổi theo Luật Trẻ em 2016) và thực trạng thực thi pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2023).
Cơ sở lý luận, khung pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận và khái niệm, khóa luận phân tích khái niệm "trẻ em" dưới góc độ sinh học, tâm lý xã hội và pháp lý. Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam: Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 xác định trẻ em là người dưới 16 tuổi (hẹp hơn so với quy định người dưới 18 tuổi tại Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989), đồng thời tạo ra sự chồng chéo với quy định về người lao động chưa thành niên (dưới 18 tuổi) tại khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019. Về khái niệm BLGĐ, nghiên cứu trích dẫn khoản 1 Điều 2 Luật PCBLGĐ năm 2022, kết hợp định nghĩa bạo lực trẻ em tại khoản 6 Điều 4 Luật Trẻ em năm 2016 để rút ra định nghĩa khoa học: bạo lực gia đình đối với trẻ em là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, được thực hiện một cách cố ý bởi một hoặc nhiều người có mối quan hệ gia đình với trẻ em, gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với trẻ em.
Khung pháp lý được tác giả vận dụng gồm hai nhóm chính:
- Văn bản pháp luật quốc tế và kinh nghiệm so sánh: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989); Luật mẫu về bạo lực gia đình của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (1996); các mô hình pháp luật thực tiễn của Thụy Điển (Luật cấm bạo hành trẻ em năm 1966, Luật cấm trừng phạt thân thể năm 1979, thiết chế Thanh tra trẻ em độc lập), Trung Quốc (Luật Hôn nhân bổ sung năm 2001, Đạo luật chống BLGĐ năm 2015, mô hình đội phản ứng nhanh và bảo hiểm bạo lực), và Malaysia (Đạo luật Bạo hành Gia đình 1994 sửa đổi 2012, cơ chế Lệnh bảo vệ tạm thời).
- Hệ thống pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (Điều 37); Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 23 đến Điều 32, Điều 48, 49, 50, 62); Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 68 đến Điều 87); Luật PCBLGĐ năm 2007 và Luật PCBLGĐ năm 2022; Nghị định 144/2021/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính); Nghị định 112/2020/NĐ-CP (xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức); Bộ luật Dân sự năm 2015 (bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng); Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp diễn dịch và quy nạp.
Nguồn dữ liệu trong khóa luận là dữ liệu thứ cấp được tổng hợp chính thức từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề của Đoàn giám sát Quốc hội Khóa XIV (giai đoạn 2015 – 6/2019); số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH); số liệu điều tra của Bộ Công an tại các trường giáo dưỡng; Báo cáo số 391/BC-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tổng kết 10 năm thi hành Luật PCBLGĐ; dữ liệu tiếp nhận của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em 111; số liệu giải quyết các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân các cấp; cùng các công trình nghiên cứu của các tác giả Đinh Thị Hồng Minh (2011), Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Nguyễn Thị Thụ (2015), Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về bạo lực gia đình đối với trẻ em và phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
Chương này tập trung xác lập hệ thống nhận thức lý luận nền tảng thông qua 5 tiểu mục lớn:
- Hệ thống khái niệm: Khóa luận phân tích các khái niệm cơ bản gồm trẻ em, bạo lực gia đình, bạo lực gia đình đối với trẻ em, và phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em. Tác giả nhấn mạnh tiếp cận quyền con người và phân tích các góc độ tiếp cận (góc độ giới của UNFPA, góc độ xã hội học và góc độ pháp lý).
- Phân loại các hình thức BLGĐ đối với trẻ em: Khóa luận nêu rõ 3 tiêu chí phân loại: (1) Dựa vào chủ thể (cha mẹ đối với con cái; các thành viên khác đối với trẻ em); (2) Dựa vào yếu tố lỗi (lỗi cố ý trực tiếp; lỗi cố ý gián tiếp); (3) Dựa vào hình thức thể hiện (đây là tiêu chí phổ biến nhất, gồm 4 nhóm):
- Bạo lực thể chất: đánh đập, ngược đãi, tra tấn, gây thương tích hoặc tước đoạt tính mạng.
- Bạo lực tinh thần: lăng mạ, chửi bới, sỉ nhục, cô lập, tạo áp lực tâm lý thường xuyên.
- Bạo lực kinh tế (bạo lực lao động): bóc lột sức lao động của trẻ em, ép buộc làm việc nặng nhọc quá sức để phục vụ lợi ích hoặc thói hư tật xấu của người lớn.
- Bạo lực tình dục: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô, quấy rối, ép buộc tiếp cận văn hóa phẩm đồi trụy hoặc bóc lột tình dục trẻ em.
- Hậu quả đa chiều của hành vi: Tác giả phân tích tác động tiêu cực trên 5 phương diện:
- Đối với nạn nhân: tổn thương thể xác lâu dài; để lại chấn thương tâm lý sâu sắc (trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm thần); làm lệch lạc sự phát triển nhân cách. Báo cáo giám sát của Quốc hội Khóa XIV giai đoạn 2015 – 6/2019 ghi nhận có 337 trẻ tử vong, 375 trẻ bị thương tật, 418 trẻ có thai, 193 trẻ bị rối loạn tâm thần do bạo lực; 180 trẻ phải bỏ học do BLGĐ, 563 trẻ nghiện ma túy và 4.556 trẻ nhiễm HIV/AIDS xuất phát từ nhiều nguyên nhân (trong đó có BLGĐ).
- Đối với gia đình: làm rạn nứt quan hệ tình cảm, dẫn đến đổ vỡ hôn nhân. Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 01/07/2008 – 31/07/2018 đã giải quyết 1.060.767 vụ ly hôn xuất phát từ nguyên nhân BLGĐ (chiếm 76,6% tổng số vụ ly hôn).
- Đối với xã hội: làm suy giảm năng suất lao động, gia tăng tội phạm và hành vi lệch chuẩn, xói mòn giá trị đạo đức truyền thống.
- Đối với Nhà nước: gây tổn hại kinh tế tương đương khoảng 1,78% GDP mỗi năm; gia tăng gánh nặng chi phí y tế, giáo dục và ngân sách cho hệ thống tư pháp, cơ sở bảo trợ xã hội.
- Đối với chủ thể thực hiện hành vi: bị xã hội lên án, gia đình xa lánh; chịu tổn thất kinh tế do bồi thường hoặc bị tước tự do, xử lý hình sự.
- Ý nghĩa của công tác PCBLGĐ: Góp phần bảo đảm quyền cơ bản của trẻ em theo Điều 37 Hiến pháp 2013; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng; kiến tạo môi trường an toàn cho trẻ phát triển toàn diện; giảm thiểu gánh nặng thiệt hại kinh tế - xã hội.
- Kinh nghiệm quốc tế: Khóa luận phân tích mô hình cấm trừng phạt thân thể trẻ em và cơ chế thiết lập thiết chế Thanh tra trẻ em độc lập của Thụy Điển; quy định khái niệm BLGĐ trong Luật Hôn nhân, thành lập đội phản ứng nhanh và chính sách bảo hiểm của Trung Quốc; quy định Lệnh bảo vệ tạm thời và bài học về vai trò của nhân viên y tế của Malaysia (nơi nghiên cứu chỉ ra chỉ có 20% bác sĩ lâm sàng và 6,8% điều dưỡng được đào tạo về BLGĐ, dẫn đến hiệu quả can thiệp trên thực tế chưa đạt như kỳ vọng của luật).
Chương 2: Quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 rà soát, đánh giá toàn diện các chế định pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh quan hệ PCBLGĐ đối với trẻ em:
- Quy định về quyền của trẻ em trong gia đình: Phân tích quy định tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013; cụ thể hóa nghĩa vụ gia đình từ Điều 23 đến Điều 32 Luật Trẻ em năm 2016; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con cái tại các điều từ 68 đến 87 thuộc Mục 1 Chương V Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (đặc biệt là Điều 69 về nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, tôn trọng ý kiến của con, cấm phân biệt đối xử và lạm dụng sức lao động).
- Hệ thống 7 nguyên tắc PCBLGĐ theo Điều 4 Luật PCBLGĐ năm 2022:
- Phòng ngừa là chính, lấy người bị bạo lực gia đình làm trung tâm.
- Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có liên quan; bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em; ưu tiên bảo vệ phụ nữ có thai, người nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật.
- Chú trọng hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn.
- Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh; trong quá trình xử lý trường hợp nạn nhân là trẻ em bắt buộc phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc người làm công tác bảo vệ trẻ em.
- Nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người đứng đầu; chú trọng phối hợp liên ngành.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội.
- Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nhân dân.
- Các biện pháp phòng ngừa: Rà soát các quy định về thông tin, truyền thông, giáo dục (Điều 13, 14, 15 Luật PCBLGĐ 2022 và Điều 48 Luật Trẻ em 2016); hoạt động hòa giải mâu thuẫn (hòa giải tại gia đình, dòng họ theo Điều 17; hòa giải tại cơ quan, tổ chức theo khoản 2 Điều 18; hòa giải ở cơ sở theo khoản 3 Điều 18); xây dựng môi trường sống an toàn; tiếp nhận thông tin, đánh giá nguy cơ can thiệp (Điều 48, 49 Luật Trẻ em 2016). Khóa luận lưu ý số liệu điều tra 2.209 học viên tại các trường giáo dưỡng của Bộ Công an cho thấy: 48,1% từng sống trong hoàn cảnh bị bố mẹ đối xử thô bạo, độc ác; số trẻ bị bố đánh chiếm 23% (gấp 6 lần mẹ đánh), bị bố dượng/dì ghẻ đánh chiếm 20,3%, cho thấy vai trò quyết định của môi trường gia đình lành mạnh.
- Các cơ chế chế tài xử lý hành vi vi phạm:
- Xử lý vi phạm hành chính: Căn cứ Nghị định 144/2021/NĐ-CP (Mục 4 Chương II), quy định hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân (tổ chức gấp đôi). Phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xâm hại sức khỏe (Điều 52); phạt đến 20.000.000 đồng đối với hành vi hành hạ, ngược đãi (Điều 53), cùng các hình thức xử phạt bổ sung (tước giấy phép, tịch thu tang vật, trục xuất).
- Xử lý kỷ luật: Căn cứ Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung 2019) và Nghị định 112/2020/NĐ-CP. Cán bộ vi phạm bị khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm; công chức bị hạ bậc lương, giáng chức, buộc thôi việc; viên chức bị buộc thôi việc. Tác giả chỉ rõ thực tế áp dụng còn gặp trở ngại do tâm lý nể nang và bệnh thành tích thi đua ở cơ quan, đơn vị.
- Xử lý hình sự: Áp dụng BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với 3 nhóm tội danh chính: nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe (Tội giết người, Tội cố ý gây thương tích); nhóm tội xâm phạm tình dục (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm, dâm ô); nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 185 về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu).
- Xử lý dân sự: Phân tích cơ chế bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Điều 585, 589, 590, 591, 592 BLDS năm 2015. Tác giả chỉ ra lỗ hổng lớn: việc bồi thường hầu như không khả thi khi trẻ sống chung với cha mẹ, vì tiền bồi thường lại do cha mẹ trực tiếp quản lý; đồng thời quy định bên bị xâm hại không được bồi thường nếu không áp dụng biện pháp ngăn chặn thiệt hại (khoản 5 Điều 585) là phi thực tế đối với trẻ em. Phân tích chế định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên dưới 16 tuổi theo các điều 85, 86, 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và liên hệ với cơ chế chăm sóc thay thế (Điều 50, Điều 62 Luật Trẻ em 2016).
Chương 3: Thực tiễn và giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em
Chương này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất các định hướng hoàn thiện:
- Thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em: Khảo sát năm 2018 cho thấy trên 74% trẻ em từ 1 đến 14 tuổi từng bị bạo lực gia đình ít nhất một lần. Các hành vi phổ biến gồm: la mắng, chửi bới, sỉ nhục (73,5%); dùng tay chân đánh đập (61,7%); dùng vật tấn công (47%); bắt làm việc nặng kiếm tiền (20,5%); bỏ đói (17,6%); đuổi ra khỏi nhà (14,7%). Thống kê của Bộ LĐ-TB&XH từ ngày 01/01/2015 đến 30/06/2019 ghi nhận 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ bị xâm hại; trong đó xâm hại tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất với 75,4% (6.432 trẻ). Nhiều địa phương có tỷ lệ xâm hại tình dục trẻ em trên 90% như Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Đồng Nai. Tỷ lệ trẻ bị xâm hại bởi người thân thích, ruột thịt chiếm tỷ lệ lớn ở nhiều tỉnh, thành: Hà Tĩnh 67,6%, Hà Nội 51,9%, Bà Rịa - Vũng Tàu 33%. Toàn quốc ghi nhận 780.518 trường hợp trẻ em lao động trái pháp luật, 156.932 trẻ bị bỏ rơi, bỏ mặc và gần 13.500 trẻ 15 tuổi tảo hôn.
- Đánh giá công tác PCBLGĐ đối với trẻ em:
- Những điểm đạt được: Số vụ BLGĐ phát hiện trên cả nước giai đoạn 2009 – 2019 là 297.498 vụ, có xu hướng giảm rõ rệt qua các năm (từ 53.206 vụ năm 2009 xuống 20.108 vụ năm 2015 và còn 8.176 vụ năm 2019). Nhận thức cộng đồng từng bước được cải thiện; trên 30% hộ gia đình được tiếp cận thông tin tuyên truyền; giai đoạn 2009 – 2019 có 17.415 người gây bạo lực và 17.841 nạn nhân được tư vấn; giai đoạn 2012 – 2019 các cơ quan chức năng đã xử lý 101.740 vụ BLGĐ.
- Những mặt hạn chế, nguyên nhân: Vẫn còn tâm lý coi BLGĐ là chuyện riêng nội bộ ("đèn nhà ai nhà nấy rạng", "xấu che tốt khoe"); nhiều bậc phụ huynh ngộ nhận đánh đập là phương pháp dạy dỗ ("thương cho roi cho vọt"); việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức còn nể nang; thiếu hướng dẫn cụ thể về căn cứ hạn chế quyền cha mẹ (chưa có tiêu chí phân định thế nào là "vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc" hay "lối sống đồi trụy"); nhân viên y tế tại cơ sở chưa được tập huấn bài bản để phát hiện, báo cáo dấu hiệu bạo lực.
- Hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện pháp luật: Sớm ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật PCBLGĐ năm 2022; nghiên cứu sửa đổi Luật Trẻ em năm 2016 theo hướng nâng độ tuổi trẻ em lên dưới 18 tuổi để thống nhất với Công ước LHQ và Bộ luật Lao động năm 2019; ban hành nghị định/thông tư hướng dẫn chi tiết các tiêu chí áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên; hoàn thiện cơ chế tố tụng thân thiện và quy định rõ chế tài đối với việc không tố giác hành vi bạo lực trẻ em.
- Nâng cao nhận thức xã hội: Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; đưa nội dung phòng chống bạo lực và kỹ năng tự bảo vệ vào học đường; phê phán mạnh mẽ quan niệm sai lệch về quyền đánh con của cha mẹ.
- Tăng cường năng lực quản lý và phối hợp liên ngành: Nâng cao năng lực và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chức năng; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa công an, tòa án, ngành LĐ-TB&XH, y tế, giáo dục và tổ chức đoàn thể; nhân rộng mô hình địa chỉ tin cậy, nhà tạm lánh và đường dây nóng hỗ trợ trẻ em tại cơ sở.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp các dữ liệu thực tế và hệ thống hóa khung chế tài xử lý hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em qua các bảng sau:
Bảng 1: Thống kê số vụ và dạng thức bạo lực, xâm hại trẻ em tại Việt Nam qua các giai đoạn
| Chỉ số / Tiêu chí thống kê |
Quy mô / Số liệu ghi nhận |
Nguồn trích xuất từ văn bản |
| Tỷ lệ bạo lực trẻ em do người thân gây ra |
65,88% tổng số cuộc gọi đến tổng đài |
Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 |
| Tỷ lệ thủ phạm thân, quen với nạn nhân |
97% trong gần 2.000 vụ bị phát hiện (năm 2020) |
Bộ Công an |
| Tỷ lệ trẻ từ 1 – 14 tuổi từng bị bạo lực gia đình |
Trên 74% (ít nhất 1 lần bị bạo lực) |
Khảo sát năm 2018 |
| Số vụ xâm hại trẻ em phát hiện (2015 – 6/2019) |
8.442 vụ (với 8.709 trẻ em bị xâm hại) |
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội |
| Dạng xâm hại phổ biến nhất (2015 – 6/2019) |
Xâm hại tình dục (6.432 trẻ, chiếm 75,4%) |
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội |
| Tổng số vụ BLGĐ phát hiện (2009 – 2019) |
297.498 vụ (giảm từ 53.206 vụ xuống 8.176 vụ) |
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch |
| Tổng số vụ BLGĐ đã xử lý (2012 – 2019) |
101.740 vụ |
Báo cáo số 391/BC-BVHTTDL |
| Tỷ lệ các vụ án ly hôn do nguyên nhân BLGĐ |
76,6% (1.060.767 vụ giải quyết giai đoạn 2008 – 2018) |
Tòa án nhân dân các cấp |
| Trẻ có cha mẹ ly hôn trung bình mỗi năm |
Khoảng 70.000 trẻ em |
Báo cáo giám sát Quốc hội Khóa XIV |
| Thiệt hại kinh tế ước tính do BLGĐ gây ra |
Khoảng 1,78% GDP mỗi năm |
Nghiên cứu của Liên hợp quốc tại Việt Nam |
Bảng 2: Khung chế tài pháp lý đối với hành vi bạo lực gia đình đối với trẻ em
| Nhóm chế tài |
Căn cứ văn bản pháp luật |
Biện pháp và mức xử lý cụ thể |
| Xử phạt hành chính |
Nghị định 144/2021/NĐ-CP (Mục 4 Chương II) |
Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 3.000.000đ – 30.000.000đ (cá nhân); phạt đến 10.000.000đ do xâm hại sức khỏe (Điều 52), đến 20.000.000đ do ngược đãi, hành hạ (Điều 53). Tịch thu tang vật, tước chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động. |
| Xử lý kỷ luật |
Luật Cán bộ, công chức 2008; Luật Viên chức 2010; Nghị định 112/2020/NĐ-CP |
Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm tùy theo chức danh cán bộ, công chức, viên chức vi phạm. |
| Xử lý hình sự |
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) |
Truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe (giết người, cố ý gây thương tích); xâm phạm tình dục (hiếp dâm, dâm ô trẻ em); tội ngược đãi, hành hạ người thân (Điều 185). |
| Chế tài dân sự |
Bộ luật Dân sự 2015; Luật Hôn nhân và gia đình 2014 |
Buộc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (thiệt hại sức khỏe, tinh thần theo Điều 590, 592 BLDS); Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên dưới 16 tuổi (Điều 85 Luật HN&GĐ). |
Về đóng góp học thuật, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp thực hiện việc xâu chuỗi, đối chiếu hệ thống quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em ngay sau khi Luật PCBLGĐ năm 2022 được thông qua. Đóng góp nổi bật của tác giả thể hiện ở việc chỉ rõ những điểm vênh, khoảng trống trong pháp luật thực định: sự không tương thích về độ tuổi trẻ em giữa các luật; tính thiếu khả thi của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa cha mẹ và con cái; tình trạng thiếu tiêu chí định lượng khi áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha mẹ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; và thực trạng "nể nang", che giấu vi phạm trong xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận hoàn thành vào đầu năm 2023, trong khi Luật PCBLGĐ năm 2022 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2023. Do đó, nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ phân tích điểm mới và dự báo tác động trên phương diện lý luận quy phạm, chưa thể khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành của các quy định mới này trên thực tế.
Bên cạnh đó, các số liệu thống kê thực tế về xử lý vi phạm hành chính và kỷ luật chuyên biệt đối với hành vi bạo lực gia đình nhằm vào trẻ em còn bị lồng ghép chung trong số liệu bạo lực gia đình nói chung, chưa có hệ số phân tách độc lập theo nhóm tuổi tại nhiều địa phương. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần theo dõi, khảo sát thực tiễn áp dụng Luật PCBLGĐ năm 2022 sau khi có hiệu lực; phân tích các vụ án cụ thể phát sinh theo quy định mới; và đánh giá tác động thực tế của quy định bắt buộc phải có đại diện cơ quan quản lý trẻ em tham gia vào quá trình xử lý vi phạm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học (đặc biệt là các học phần Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự, Luật Hình sự, Quyền con người), ngành Công tác xã hội và ngành Xã hội học.
- Cán bộ làm công tác tư pháp, hòa giải cơ sở, cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã/phường, các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em trong việc tra cứu khung chế tài và nắm bắt các nguyên tắc bảo vệ nạn nhân.
- Phần đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 2 với hệ thống phân tích chi tiết 7 nguyên tắc PCBLGĐ theo luật mới năm 2022 và phần lập luận phản biện về những bất cập của cơ chế bồi thường thiệt hại dân sự cùng thủ tục hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận chỉ ra điểm xung đột nào về quy định độ tuổi trẻ em trong pháp luật Việt Nam?
Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi, hẹp hơn định nghĩa người dưới 18 tuổi của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989. Đồng thời, quy định này mâu thuẫn với khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 (xác định người lao động chưa thành niên là dưới 18 tuổi). Sự thiếu nhất quán này tạo ra khoảng trống pháp lý đối với nhóm đối tượng từ 16 đến dưới 18 tuổi trong việc tiếp cận các chính sách phúc lợi, an sinh và biện pháp bảo vệ đặc thù dành cho trẻ em.
2. Hình thức xâm hại trẻ em nào chiếm tỷ lệ cao nhất trong các vụ việc bị phát hiện theo số liệu khóa luận?
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giai đoạn từ 01/01/2015 đến 30/06/2019, trong tổng số 8.442 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện (với 8.709 trẻ bị xâm hại), hành vi xâm hại tình dục chiếm tỷ lệ áp đảo với 75,4% (6.432 trẻ). Tại một số địa phương như Cần Thơ, Hậu Giang, Tiền Giang, Đồng Nai, tỷ lệ này vượt mức 90%.
3. Vì sao chế tài buộc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khó khả thi khi trẻ bị chính cha mẹ bạo hành?
Khóa luận chỉ ra rằng khi trẻ em sống chung và chịu sự nuôi dưỡng của cha mẹ, tài sản của trẻ chưa thành niên (nhất là dưới 15 tuổi) lại do chính cha mẹ quản lý theo luật định. Do đó, nếu buộc cha mẹ bồi thường thì dòng tiền vẫn luân chuyển trong cùng một gia đình và do người gây bạo lực nắm giữ, người vi phạm hầu như không phải chịu tổn thất kinh tế thực tế. Ngoài ra, quy định tại khoản 5 Điều 585 BLDS năm 2015 (không bồi thường nếu bên bị thiệt hại không áp dụng biện pháp ngăn chặn) là hoàn toàn bất khả thi đối với nạn nhân yếu thế là trẻ em.
4. Khóa luận ghi nhận số liệu cụ thể nào về mối liên hệ giữa bạo lực gia đình và tình trạng ly hôn tại Việt Nam?
Theo số liệu của Tòa án nhân dân các cấp được trích dẫn trong khóa luận, từ ngày 01/07/2008 đến ngày 31/07/2018, các cấp tòa án đã giải quyết 1.060.767 vụ ly hôn có nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ bạo lực gia đình, chiếm tỷ lệ 76,6% trong tổng số các vụ án ly hôn trên toàn quốc. Trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 70.000 trẻ em rơi vào hoàn cảnh cha mẹ ly hôn.
5. Thụy Điển đã áp dụng những chính sách pháp lý tiên phong nào về phòng, chống bạo lực trẻ em mà Việt Nam có thể tham khảo?
Thụy Điển ban hành luật cấm bạo hành trẻ em trong gia đình từ năm 1966 và là quốc gia đầu tiên trên thế giới thông qua Luật cấm trừng phạt thân thể trẻ em vào năm 1979. Bên cạnh việc thay đổi phương pháp giáo dục gia đình, Thụy Điển đã thành lập thiết chế Thanh tra trẻ em độc lập (Ombudsperson) cùng 1 hội đồng thanh niên và 7 hội đồng trẻ em để đại diện, bảo vệ quyền lợi và tiếp nhận trực tiếp ý kiến của trẻ em.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hướng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, khung pháp luật thực định và bức tranh thực tế về công tác phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em tại Việt Nam. Công trình làm nổi bật các số liệu đáng báo động về tình trạng bạo lực, bóc lột và xâm hại trẻ em trong môi trường gia đình, đồng thời phân tích sâu sắc các nguyên tắc mới của Luật PCBLGĐ năm 2022. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về độ tuổi trẻ em, cơ chế bồi thường dân sự, tiêu chí hạn chế quyền cha mẹ và nâng cao trách nhiệm liên ngành có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn rõ rệt.