CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em 1. Khái niệm thực hiện pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với trẻ em 1. Khái niệm bạo lực gia đình đối với trẻ em * Trẻ em Để tìm hiểu về pháp luật phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thì trước hết chúng ta cần hiểu như thế nào được gọi là trẻ em.
Theo từ điển Tiếng Việt thì trẻ em được hiểu là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh ra và tuổi dậy thì. Trong hệ thống pháp luật hiện hành có nhiều quy định về tuổi trẻ em. Tuy nhiên, có một số quy định không thống nhất, thậm chí cùng một tuổi nhưng ở văn bản này gọi là trẻ em, ở văn bản khác đã thành… người lớn, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được sử dụng tương đối thống nhất và áp dụng độ tuổi của trẻ em là dưới mười tám tuổi.
Bên cạnh đó, nghiên cứu về trẻ em dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em trong một số văn bản của quốc tế như: Công ước quốc tế như Tuyên bố của Hội quốc liên về quyền trẻ em (năm 1924), Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1989), Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (năm 1959)… đã khẳng định việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào nội luật của mỗi nước quy định độ tuổi thành niên sớm hơn. Song, các tổ chức của Liên hợp quốc và quốc tế như UNICEF, UNESSCO… đều xác định trẻ em là người dưới mười tám tuổi. 8 luan an Riêng ở Việt Nam tại Điều 1 của Luật Trẻ em năm 2016 đã được điều chỉnh phù hợp hơn “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” so với các văn bản luật trước đó. Bên cạnh các quy định tại các văn bản luật chuyên ngànhn liên quan đến trẻ em, bao lực gia đình, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Lao động… Tuy nhiên trong pháp luật hình sự không dùng thuật ngữ “trẻ em” mà dùng thuật ngữ “người chưa thành niên”.
Trong khi thuật ngữ này lại có nội hàm rộng hơn do người chưa thành niên là người dưới mười tám tuổi. Thuật ngữ trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016 lại xác định trẻ em là người dưới mười sáu tuổi. Việc mỗi văn bản quy định mỗi thuật ngữ khác nhau cùng điều chỉnh về vấn đề trẻ em sẽ tạo nên sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật. Tác giả cho rằng khi có sự không thống nhất giữa các văn bản khác với Luật Trẻ em năm 2016 thì cần áp dụng Luật Trẻ em để tạo nên sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Do đó, các cơ quan chức năng cần rà soát, hệ thống hóa các văn bản luật, đề xuất một độ tuổi thống nhất để sử dụng các thuật ngữ pháp lý cho phù hợp. Có thể theo phương án, một luật sửa nhiều luật, cụ thể là Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định của các luật liên quan đến độ tuổi của trẻ em. Bên cạnh đó, việc quy định độ tuổi của trẻ em dưới mười sáu tuổi vẫn có nhiều ý kiến khác nhau, trong đó đa số đều tán thành quan điểm nâng độ tuổi của trẻ em đến dưới mười tám tuổi. Đến thời điểm này, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) vẫn đang tiếp tục xin ý kiến các chuyên gia pháp luật, nhà nghiên cứu về tâm - sinh lý lứa tuổi và đặc biệt là lấy ý kiến của trẻ em và người dân về việc nâng độ tuổi của trẻ em lên dưới mười tám tuổi.
Việc quy định nâng độ tuổi của trẻ em vừa phù 9 luan an hợp với luật pháp quốc tế, vừa tránh được việc phải sử dụng nhiều khái niệm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, đồng thời việc quy định độ tuổi này cũng đã phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tạo cho trẻ em trở thành công dân trưởng thành, tham gia đầy đủ hơn vào đời sống xã hội [17]. Từ những phân tích trên, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật Trẻ em 2016 như sau: “Trẻ em là người dưới mười tám tuổi”. Khái niệm này phần nào có thể bao hàm được cả khái niệm trẻ em của Công ước và của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật quốc gia, cũng phù hợp với tâm sinh lý của người Việt Nam hiện nay vì người dưới mười tám tuổi chưa phát triển đầy đủ về sức khoẻ và nhận thức, chưa đủ các điều kiện cần thiết để trở thành người thành niên nên đòi hỏi cần có sự quan tâm đặc biệt, cần có sự bảo vệ, chăm sóc của gia đình và xã hội nhiều hơn để tạo đà cho các em phát triển đầy đủ, trở thành người có ích cho xã hội, tránh rơi vào các tệ nạn hoặc vi phạm pháp luật; tạo ra sự thống nhất quản lý xã hội bằng pháp luật đối với mọi người dân, không tạo ra “khoảng trống” trong việc bảo vệ, chăm sóc quyền con người theo một chu kỳ vòng đời người.
Việc quy định độ tuổi trẻ em dưới mười tám tuổi là phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em. * Bạo lực gia đình đối với trẻ em Cách hiểu chung nhất về bạo lực gia đình, đó là những hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình, là sự xâm phạm hay ngược đãi về mặt thể chất hoặc tinh thần, tình cảm hay tình dục, kinh tế hay xã hội của các thành viên trong gia đình. Khái niệm bạo lực gia đình cũng tương đồng với khái niệm bạo hành gia đình, nó được dịch ra từ tiếng nước ngoài (violence). Theo Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 thì: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên 10 luan an khác trong gia đình”.
Bạo lực gia đình là một hành vi phổ biến, nó xảy ra ở mọi quốc gia, nền văn hóa, tôn giáo, không có ngoại lệ về trình độ phát triển hay trình độ dân trí. Theo quan điểm của khoa học luật thì hành vi bạo lực gia đình được chia làm bốn nhóm cụ thể như sau: bạo lực tinh thần, bạo lực thể chất, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục. Mỗi nhóm bạo lực có thể được thể hiện ở nhiều hành vi khác nhau. Những hành vi đó được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.
Việc Luật Phòng, chống bạo lực gia đình liệt kê những hành vi như trên sẽ đảm bảo được tính minh bạch, thuận tiện khi áp dụng, nhất là đối với công tác tuyên truyền, giáo dục và xử lí những người có hành vi bạo lực. Tuy nhiên, cần có sự phân loại hành vi thành từng nhóm bao gồm bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực về tình dục và bạo lực về kinh tế. Để trở thành một con người có nhân cách độc lập trong xã hội, trẻ em phải được phát triển về cả ba phương diện: thể chất, trí tuệ và tình cảm, sự phát triển của ba mặt này có quan hệ khăng khít và hỗ trợ thúc đẩy nhau. Chính vì vậy, trẻ cần được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trong một môi trường an toàn, lành mạnh, gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên có khả năng nhất trong việc chăm lo sự phát triển cả ba phương diện của trẻ.
Thế nhưng, hiện nay có không ít trẻ em phải sống trong sự sợ hãi, lo lắng ngay trong chính gia đình của mình do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó bạo lực gia đình và các em là nạn nhân trực tiếp của nó là nguyên nhân chính. Nhiều gia đình có những biện pháp giáo dục thô bạo và những hành vi trừng phạt trẻ diễn ra có thể để lại những hậu quả lâu dài theo suốt cuộc đời của trẻ nhỏ.Như vậy, bạo lực gia đình đối với trẻ em là những hành vi bạo hành thể chất, tinh thần do một thành viên lớn tuổi trong gia đình thực hiện mà nạn nhân là trẻ 11 luan an em. Đối với trẻ em, có hai hình thức bạo lực chính đó là bạo hành về thể xác và về tinh thần. Thứ nhất, bạo lực thể xác: Bạo lực thể xác đối với trẻ em như: đánh đập, gây tổn thương, bỏ đói, đầu độc, không chăm sóc về mặt y tế, không đảm bảo an toàn sinh hoạt nhất là đối với trẻ em dưới ba tuổi.
Bạo lực về mặt thân thể cũng có nhiều mức độ khác nhau: - Mức độ nhẹ: Ngắt hoặc véo làm cho đau, hậu quả để lại là những vết bầm tím, vệt hằn trên da. - Mức độ vừa: Giật mạnh, kéo, lắc hoặc rứt tóc. Cha mẹ dùng tay, chân (đánh đấm) hay kết hợp sử dụng các dụng cụ nhỏ như roi, que, thước kẻ, cán chổi. Hậu quả là làm giảm vận động, trẻ khó hoặc không viết, đi lại bình thường trong một khoảng thời gian ngắn.
- Mức độ mạnh: cha mẹ sử dụng những dụng cụ to như thanh củi, thắt lưng da, thanh sắt.và gây ra các hậu quả như làm gãy xương và hoặc thương tích bên trong, làm tàn tật và hoặc biến dạng vĩnh viễn. - Mức độ cao nhất và cũng để lại hậu quả lớn nhất đó là hành vi giết người. Thứ hai, bạo lực tinh thần: Bạo lực về tinh thần là hành vi bạo lực nguy hiểm, nếu xảy ra sẽ để lại những hậu quả nghiệm trọng như trầm cảm, tự sát… bao gồm những hành động như lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hay nhiều thành viên làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một hay nhiều thành viên khác. Bạo lực tinh thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, sở thích riêng của mỗi người.
Không giống với bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần còn được chia ra thành hai dạng nhỏ đó là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián tiếp.