Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nhà nước pháp quyền, nguyên tắc thượng tôn pháp luật đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) khi ban hành phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi và đạt chất lượng cao. Chính sách đóng vai trò là công cụ quản lý nhà nước, là tiền đề định hình nội dung của VBQPPL. Nhằm đảm bảo chất lượng lập pháp, việc đánh giá tác động của chính sách (ĐGTĐCS) trước khi ban hành VBQPPL là một công đoạn bắt buộc trong quy trình xây dựng pháp luật.

Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường nuôi dưỡng nhân cách và bảo bọc các thành viên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hiện tượng bạo lực gia đình (BLGĐ) vẫn diễn biến phức tạp, xảy ra ở mọi vùng miền, tầng lớp xã hội và các mối quan hệ gia đình (vợ chồng, cha mẹ và con cái, anh chị em). Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 sau gần 15 năm thi hành đã bộc lộ nhiều hạn chế: quy định còn mơ hồ, thiếu tính khả thi, chưa bao quát các hành vi bạo lực mới nảy sinh và thiếu cơ chế bảo vệ hữu hiệu cho các nhóm yếu thế. Trước yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, đề tài "Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi)" được tác giả Đặng Ngân Hà thực hiện nhằm phân tích thực trạng và ứng dụng quy trình ĐGTĐCS để luận giải các giải pháp sửa đổi luật.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐGTĐCS trong quy trình xây dựng VBQPPL.
  2. Vận dụng khung lý thuyết ĐGTĐCS để đánh giá thực trạng bạo lực gia đình và phân tích các phương án chính sách trong Đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi).
  3. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ĐGTĐCS và hoàn thiện các quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi).

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đánh giá tác động chính sách đối với Đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Đánh giá các chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) trên 5 phương diện: kinh tế, xã hội, giới, thủ tục hành chính và hệ thống pháp luật.
  • Về thời gian: Thu thập, phân tích số liệu thực tiễn thi hành pháp luật từ năm 2011 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận tiếp cận ĐGTĐCS từ khái niệm Đánh giá tác động quy định/pháp luật (Regulatory Impact Assessment - RIA) có nguồn gốc từ Hoa Kỳ vào giữa thập niên 1970 (dưới thời Tổng thống Gerald Ford) và được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) chuẩn hóa thành phương pháp có tính hệ thống nhằm phân tích chi phí - lợi ích của các phương án chính sách.

Tại Việt Nam, cơ sở lý luận và quy chuẩn ĐGTĐCS được tác giả xây dựng dựa trên các văn bản pháp lý và tài liệu chuyên môn:

  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL.
  • Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
  • Sổ tay Kỹ năng đánh giá văn bản pháp luật (Bộ Tư pháp, UNDP, 2010).
  • Khung nội dung ĐGTĐCS gồm 05 khía cạnh bắt buộc:
    1. Tác động kinh tế: Chi phí và lợi ích đối với Nhà nước (chi tiêu công, thu ngân sách, đầu tư công), người dân (thu nhập, chi tiêu, thời gian tuân thủ) và doanh nghiệp/tổ chức (chi phí sản xuất, năng lực cạnh tranh).
    2. Tác động xã hội: Dự báo tác động đối với 11 lĩnh vực (dân số, việc làm, tài sản, sức khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, dân tộc, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng).
    3. Tác động về giới: Phân tích cơ hội, điều kiện, năng lực và thụ hưởng quyền lợi của nam và nữ, bảo đảm nhạy cảm giới và mục tiêu lồng ghép bình đẳng giới.
    4. Tác động về thủ tục hành chính (TTHC): Đánh giá tính cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ dựa trên 8 bộ phận tạo thành của TTHC.
    5. Tác động đối với hệ thống pháp luật: Đánh giá 05 tiêu chí gồm: sự phù hợp với bộ máy nhà nước, điều kiện bảo đảm thi hành, tác động tới quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành và tính tương thích với các điều ước quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các tài liệu lý luận, báo cáo tổng kết và quy định pháp luật để xây dựng luận cứ.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 với yêu cầu thực tiễn và so sánh ưu - nhược điểm của 3 phương án chính sách (giữ nguyên hiện trạng, can thiệp gián tiếp, can thiệp trực tiếp bằng pháp luật).
  • Phương pháp thống kê: Tổng hợp, xử lý số liệu thứ cấp từ các cuộc điều tra xã hội học và báo cáo liên ngành để minh chứng mức độ tác động.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Rút ra các kết luận lý luận và kiến nghị lập pháp từ các dữ kiện thực tiễn.

Nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức nghiên cứu:

  • Số liệu tổng kết giai đoạn 2009–2020 và 2009–2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Báo cáo Điều tra quốc gia bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc - UNFPA, công bố năm 2020; khảo sát $n = 5.976$ phụ nữ từ 15–64 tuổi).
  • Khảo sát của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS, 2018–2019; $n > 2.500$ nam giới từ 18–64 tuổi).
  • Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2019) về bạo lực đối với người cao tuổi ($n = 70$ trường hợp báo cáo).
  • Dữ liệu của Tổng đài Quốc gia Bảo vệ Trẻ em 111 (Quý 1/2022), Bộ Công an (2013, 2020) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về đánh giá tác động của chính sách

Chương này tập trung xác lập hệ thống lý luận về chính sách và ĐGTĐCS trong hoạt động lập pháp:

  • Khái niệm và bản chất của chính sách: Chính sách bao gồm 3 yếu tố cấu thành: (i) Chủ thể (cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền); (ii) Mục tiêu (giải quyết các vấn đề bất cập phát sinh trong đời sống thực tiễn); (iii) Nội dung (định hướng, giải pháp cốt lõi để đạt mục tiêu).
  • Khái niệm và vai trò của ĐGTĐCS: ĐGTĐCS là quá trình phân tích, dự báo tác động của chính sách đang xây dựng nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu. ĐGTĐCS giữ 4 vai trò chủ chốt: (1) Là công cụ hoạch định chính sách và lập pháp khách quan; (2) Bảo đảm chất lượng văn bản, giảm thiểu việc ban hành các VBQPPL kém chất lượng; (3) Bảo đảm quy trình lập pháp công khai, minh bạch thông qua tham vấn ý kiến; (4) Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và bảo đảm công bằng xã hội.
  • Quy trình 4 bước ĐGTĐCS:
    1. Xác định vấn đề bất cập: Làm rõ hiện trạng, hậu quả và phân tích nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp.
    2. Xác định mục tiêu: Xác định mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể mà chính sách hướng tới.
    3. Lựa chọn các phương án giải quyết: Xây dựng tối thiểu 3 phương án gồm: (a) Giữ nguyên hiện trạng; (b) Can thiệp gián tiếp (biện pháp phi truyền thống: tuyên truyền, chuẩn hóa tiêu chuẩn, ưu đãi tài chính, xã hội hóa); (c) Can thiệp trực tiếp bằng pháp luật (ban hành VBQPPL mới hoặc sửa đổi, bổ sung).
    4. Đánh giá tác động của các phương án: Đo lường, so sánh chi phí - lợi ích và các tác động tích cực/tiêu cực trên 5 khía cạnh (kinh tế, xã hội, giới, TTHC, hệ thống pháp luật) bằng phương pháp định tính và định lượng.

Chương 2: Đánh giá tác động của một số chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

Chương này ứng dụng quy trình ĐGTĐCS vào đề xuất lập pháp cụ thể:

  • Khái quát hành vi và nhận diện bất cập: Đối chiếu khái niệm BLGĐ (Khoản 2 Điều 1 Luật 2007) và 9 nhóm hành vi quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật 2007. Khóa luận chỉ ra thực tiễn xuất hiện nhiều hành vi bạo lực chưa được luật hóa, gồm: ngăn cấm thực hiện quyền học tập, làm việc, chính trị; cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người hoặc vật nuôi; bỏ mặc, không chăm sóc người yếu thế; cưỡng ép vợ/chồng thực hiện hành vi tình dục trái ý muốn; kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể/giới tính; phát tán thông tin bí mật đời tư; cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi; bắt giữ trái pháp luật; kích động, xúi giục người khác bạo lực.
  • Phân tích thực trạng bạo lực gia đình qua các tập dữ liệu định lượng:
    • Đối với phụ nữ: Giai đoạn 2009–2021 phát hiện 324.641 vụ BLGĐ trên cả nước (năm 2009 có 53.206 vụ, năm 2015 có 19.274 vụ, năm 2021 có 4.967 vụ). Điều tra quốc gia năm 2019 ($n = 5.976$) cho thấy: 62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực hoặc bị kiểm soát hành vi trong đời; 31,6% phụ nữ chịu bạo lực trong 12 tháng; 26,1% từng bị bạo lực thể xác (23% bị tát hoặc ném đồ vật, 2,6% từng bị bóp cổ); 47% bị bạo lực tinh thần; 21% bị bạo lực kinh tế; bạo lực tình dục phổ biến nhất ở nhóm 45–49 tuổi (15,9%) và 20–34 tuổi (15,2%). Đáng chú ý, 90,4% phụ nữ bị bạo lực thể xác/tình dục không tìm kiếm trợ giúp, chỉ 4,8% tìm đến công an. Thiệt hại kinh tế do bạo lực đối với phụ nữ gây ra năm 2019 ước tính chiếm 1,8% GDP (tăng 0,2% so với năm 2012).
    • Đối với nam giới: Chiếm 5–10% tổng số nạn nhân bạo lực. Báo cáo năm 2013 của Bộ Công an ghi nhận 20% nạn nhân BLGĐ là nam giới. Báo cáo năm 2017 của Sở Văn hóa - Thể thao Nghệ An ghi nhận trong 601 vụ BLGĐ có 58 nạn nhân nam và 54 nạn nhân nữ (riêng huyện Kỳ Sơn có 21/51 vụ vợ bạo hành thể xác chồng). Khảo sát của ISDS (2018–2019, $n > 2.500$) ghi nhận tỷ lệ vợ bạo hành chồng là khoảng 4%; ở nhóm 18–29 tuổi, tỷ lệ vợ sử dụng bạo lực thể chất với chồng là 6,2% (so với 3,5% chồng bạo lực vợ). Nam giới chịu áp lực tài chính (>80%) và sự nghiệp (70%).
    • Đối với trẻ em: UNICEF ghi nhận 68,4% trẻ em từ 1–14 tuổi từng bị bạo lực bởi cha mẹ/người chăm sóc. Năm 2020, Bộ Công an phát hiện gần 2.000 vụ bạo lực trẻ em (97% thủ phạm là người thân/quen). Quý 1/2022, Tổng đài 111 tiếp nhận 202.098 cuộc gọi, can thiệp 502 ca (323 ca trẻ bị bạo lực, tăng 82,4% so với cùng kỳ 2021). Trong 3 tháng đầu năm 2022, có 147 trẻ bị xâm hại (72,8% do người thân trong gia đình gây ra). Trẻ chứng kiến bạo lực có 85% mang tâm trạng buồn phiền/lo sợ, 4,2% không tôn trọng cha mẹ, 5,5% muốn bỏ nhà đi.
    • Đối với người cao tuổi: Khảo sát của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2019) chỉ ra: bạo lực thể hiện qua hành vi bỏ mặc về tình cảm (10,2%), không chăm sóc ăn uống/thuốc men (8,5%). Trong 70 trường hợp báo cáo, có 58 trường hợp do con đẻ gây ra (82,8%), 11 trường hợp do con dâu/rể (15,7%) và 1 trường hợp do cháu (1,4%). Người cao tuổi ở nông thôn và gia đình có mức sống dưới trung bình chịu tỷ lệ bạo lực cao hơn.
  • Hậu quả và nguyên nhân:
    • Hậu quả: Gây tổn thương thể chất dài hạn, gia tăng bệnh lý tâm thần gấp 3 lần ở phụ nữ bị bạo lực (7% so với 2% ở nhóm không bị bạo lực); làm tiêu hao khoảng 1/4 thu nhập hàng năm của nạn nhân cho chi phí y tế/sửa chữa tài sản; phá vỡ cấu trúc gia đình và chuẩn mực đạo đức.
    • Nguyên nhân khách quan: Sự phụ thuộc kinh tế của nạn nhân; định kiến giới Nho giáo ("trọng nam khinh nữ", "chồng chúa vợ tôi"); khoảng trống pháp lý của Luật 2007 (chưa rõ trách nhiệm xử lý tin báo, thiếu đường dây nóng quốc gia, thiếu cơ chế bảo vệ nhân chứng và người yếu thế); chính quyền cơ sở vào cuộc chậm, nặng về hòa giải khuyên nhủ phụ nữ nhẫn nhịn.
    • Nguyên nhân chủ quan: Tâm lý cam chịu, e ngại "xấu chàng hổ ai" của nạn nhân; tính gia trưởng của người gây bạo lực; lạm dụng rượu bia và chất kích thích (thống kê cho thấy >60% vụ bạo lực xảy ra sau khi người chồng uống rượu/dùng chất kích thích, trong đó rượu bia là nguyên nhân trực tiếp của 33,7% số vụ).
  • Mục tiêu chính sách:
    • Tổng thể: Hoàn thiện biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, bảo vệ nhóm yếu thế; giảm thiểu 80% hiện tượng BLGĐ.
    • Cụ thể: Đến 2025 sửa đổi các điều khoản can thiệp, TTHC, bổ sung hành vi cưỡng ép mang thai/phá thai và bảo vệ người khuyết tật; giai đoạn 2025–2030 giảm 75% BLGĐ, giảm 65% tỷ lệ ly hôn; giai đoạn 2030–2035 giảm 100% BLGĐ, giảm 80% tỷ lệ ly hôn.
  • Đánh giá 3 phương án và phân tích tác động kinh tế của phương án giữ nguyên hiện trạng:
    • So sánh 3 phương án: Phương án 1 (Giữ nguyên hiện trạng), Phương án 2 (Can thiệp gián tiếp bằng tuyên truyền, thành lập tổng đài quốc gia riêng, kiện toàn bộ máy liên ngành), Phương án 3 (Can thiệp trực tiếp bằng việc ban hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình sửa đổi). Tác giả lựa chọn kết hợp can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp.
    • Phân tích tác động kinh tế khi giữ nguyên hiện trạng: Nhà nước không tốn chi phí xây dựng luật nhưng chịu tổn thất ngân sách lớn do: thất thu tiền phạt (do nạn nhân thường nộp thay từ tài sản chung), tăng chi phí giam giữ, gia tăng gánh nặng y tế, trợ cấp xã hội và sụt giảm năng suất lao động xã hội.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Phòng, chống bạo lực gia đình

Chương này đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao chất lượng ĐGTĐCS và hoàn thiện luật:

  1. Giải pháp về đội ngũ công chức: Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng phân tích chính sách, kỹ thuật thu thập dữ liệu và tư duy nhạy cảm giới cho cán bộ trực tiếp tham mưu soạn thảo.
  2. Giải pháp về điều kiện bảo đảm: Bố trí ngân sách thỏa đáng cho hoạt động ĐGTĐCS; thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về BLGĐ; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với các viện nghiên cứu, tổ chức xã hội.
  3. Giải pháp về kỹ thuật ĐGTĐCS: Chuẩn hóa phương pháp định lượng, phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA); hoàn thiện bộ công cụ khảo sát, lấy ý kiến rộng rãi các nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp.
  4. Khuyến nghị sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình: Mở rộng và chuẩn hóa định nghĩa các hành vi bạo lực mới; quy định rõ thẩm quyền và thời hạn xác minh, xử lý tin báo; luật hóa việc thiết lập Đường dây nóng quốc gia phòng, chống BLGĐ; hoàn thiện các biện pháp bảo vệ khẩn cấp (cấm tiếp xúc) và chế tài xử lý nghiêm minh; bổ sung cơ chế đặc thù bảo vệ trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật.

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp các dữ liệu thực tiễn và tiêu chí đánh giá trong khóa luận

Nhóm đối tượng / Tiêu chí Số liệu thực tiễn được ghi nhận trong văn bản Nguồn dữ liệu trích dẫn
Phụ nữ - 324.641 vụ BLGĐ phát hiện trên cả nước (2009–2021).
- 62,9% phụ nữ từng bị bạo lực/kiểm soát hành vi trong đời; 31,6% trong 12 tháng.
- Tỷ lệ bạo lực tinh thần: 47%; thể xác: 26,1%; kinh tế: 21%.
- 90,4% nạn nhân không tìm kiếm trợ giúp; 4,8% báo công an.
- Thiệt hại kinh tế do bạo lực đối với phụ nữ: 1,8% GDP năm 2019.
Bộ VHTTDL; Bộ LĐTBXH, TCTK và UNFPA (Điều tra quốc gia 2019, $n = 5.976$).
Nam giới - Nam giới chiếm 5–10% tổng số nạn nhân BLGĐ.
- 20% nạn nhân BLGĐ là nam giới (toàn quốc, 2013).
- Tại Nghệ An (2017): 58 nam / 54 nữ trong 601 vụ (Kỳ Sơn: 21/51 vụ vợ bạo hành thể xác chồng).
- Tỷ lệ vợ bạo hành chồng ~4%; nhóm 18–29 tuổi: vợ bạo lực thể chất chiếm 6,2% (so với chồng 3,5%).
Bộ Công an (2013); Sở VHTT Nghệ An (2017); ISDS (2018–2019, $n > 2.500$).
Trẻ em - 68,4% trẻ 1–14 tuổi từng bị bạo lực tại gia đình.
- Năm 2020: gần 2.000 vụ bạo lực trẻ em (97% do người thân/quen).
- Quý 1/2022: Tổng đài 111 nhận 202.098 cuộc gọi, can thiệp 323 ca trẻ bị bạo lực.
- 3 tháng đầu 2022: 147 trẻ bị xâm hại (72,8% do người thân).
- 85% trẻ chứng kiến bạo lực có tâm trạng buồn phiền/lo sợ.
UNICEF; Bộ Công an (2020); Bộ LĐTBXH (Tổng đài 111, Quý 1/2022); Bộ VHTTDL.
Người cao tuổi - Bỏ mặc tinh cảm: 10,2%; không chăm sóc ăn uống/thuốc men: 8,5%.
- Tỷ lệ người gây bạo lực: con đẻ 82,8% (58/70 vụ), con dâu/rể 15,7% (11/70 vụ), cháu 1,4% (1/70 vụ).
- Bạo lực xảy ra cao hơn ở khu vực nông thôn và hộ dưới mức sống trung bình.
Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (2019, $n = 70$).
Yếu tố tác động (Rượu bia) - >60% vụ bạo lực xảy ra sau khi người chồng sử dụng rượu/chất kích thích.
- Rượu bia là nguyên nhân trực tiếp của 33,7% tổng số vụ BLGĐ.
Dữ liệu thống kê xã hội học được tác giả tổng hợp.

Đóng góp của khóa luận

  • Về mặt khoa học pháp lý: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu vận dụng trực tiếp quy trình, phương pháp và khung ĐGTĐCS theo Luật Ban hành VBQPPL (sửa đổi 2020) và Nghị định 34/2016/NĐ-CP, Nghị định 154/2020/NĐ-CP vào một đề án luật chuyên ngành cụ thể tại Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn lập pháp: Cung cấp hệ thống dữ liệu định lượng đa chiều, chứng minh sự cần thiết phải sửa đổi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; nhận diện danh mục các hành vi bạo lực mới nảy sinh và luận giải tính khả thi của việc kết hợp can thiệp trực tiếp bằng VBQPPL với các giải pháp gián tiếp (đường dây nóng, cơ chế phối hợp liên ngành).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định do tính chất phức tạp của đề tài và nhận thức lý luận, thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên công trình không tránh khỏi những thiếu sót. Việc đánh giá tác động chi phí - lợi ích định lượng ở một số khía cạnh kinh tế và thủ tục hành chính mới dừng ở mức phân tích dữ liệu thứ cấp có sẵn, chưa trực tiếp tiến hành các khảo sát thực nghiệm quy mô lớn đối với đội ngũ cán bộ thi hành pháp luật tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động thực tế (Ex-post RIA) sau khi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành; tập trung đo lường chi phí tuân thủ cụ thể của các thủ tục hành chính can thiệp khẩn cấp (như biện pháp cấm tiếp xúc, tiếp nhận và xử lý tin báo bạo lực) đối với chính quyền cơ sở và lực lượng công an.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt thuộc chuyên ngành Luật Hành chính - Nhà nước, Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật; là tài liệu tham khảo về phương pháp luận và kỹ thuật soạn thảo Báo cáo ĐGTĐCS trong quy trình lập pháp.
  • Cơ quan soạn thảo, hoạch định chính sách: Cán bộ tham mưu tại Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Xã hội của Quốc hội trong quá trình rà soát, hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.
  • Các tổ chức nghiên cứu và bảo vệ quyền con người: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), UNICEF và các viện nghiên cứu xã hội học trong việc khai thác dữ liệu tổng hợp về các nhóm nạn nhân yếu thế.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Khung phân tích 05 nội dung ĐGTĐCS tại Mục 1.3 và hệ thống phân tích số liệu thực trạng BLGĐ đối với 4 nhóm đối tượng (phụ nữ, nam giới, trẻ em, người cao tuổi) tại Mục 2.2.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận căn cứ vào những văn bản quy phạm pháp luật nào để xác lập quy trình ĐGTĐCS?
Tác giả căn cứ vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ.

2. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực gia đình và mức độ tìm kiếm sự trợ giúp được văn bản nêu ra như thế nào?
Theo Điều tra quốc gia năm 2019 ($n = 5.976$), có 62,9% phụ nữ từng bị ít nhất một hình thức bạo lực hoặc kiểm soát trong đời và 31,6% bị bạo lực trong 12 tháng. Đáng chú ý, có tới 90,4% phụ nữ bị bạo lực thể xác hoặc tình dục không tìm kiếm sự trợ giúp từ cơ quan chức năng và chỉ có 4,8% tìm kiếm sự giúp đỡ từ công an.

3. Khóa luận cung cấp dữ liệu gì về thực trạng bạo lực gia đình đối với nam giới?
Số liệu trích dẫn cho thấy nam giới chiếm 5–10% nạn nhân BLGĐ theo thống kê chung; báo cáo năm 2013 của Bộ Công an ghi nhận 20% nạn nhân là nam giới. Khảo sát của ISDS (2018–2019) ghi nhận tỷ lệ vợ bạo hành chồng là khoảng 4%, riêng nhóm tuổi 18–29 có tỷ lệ vợ dùng bạo lực thể chất cao gần gấp đôi chồng (6,2% so với 3,5%).

4. Những hành vi bạo lực gia đình nào xuất hiện trên thực tế nhưng chưa có trong Luật 2007 được tác giả đề xuất bổ sung?
Tác giả đề xuất bổ sung các hành vi: cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi; ngăn cấm học tập, làm việc, sinh hoạt chính trị; cưỡng ép chứng kiến bạo lực; bỏ mặc người yếu thế (trẻ em, người già, người khuyết tật); cưỡng ép thực hiện hành vi tình dục trái ý muốn; tiết lộ/phát tán bí mật đời tư; kích thích bạo lực và bắt giữ người trái phép.

5. Ba phương án giải quyết chính sách được đặt ra so sánh trong khóa luận là gì?
Ba phương án gồm: (1) Giữ nguyên hiện trạng (tiếp tục thi hành Luật 2007); (2) Can thiệp gián tiếp (tuyên truyền, hỗ trợ tài chính, lập tổng đài quốc gia riêng, kiện toàn bộ máy); (3) Can thiệp trực tiếp bằng pháp luật (ban hành Luật sửa đổi). Tác giả kiến nghị kết hợp phương án can thiệp trực tiếp và gián tiếp.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Đặng Ngân Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về đánh giá tác động của chính sách theo pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế. Thông qua việc phân tích các dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2009–2023, công trình đã chỉ rõ những khoảng trống pháp lý của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đối với từng nhóm đối tượng yếu thế. Các giải pháp và khuyến nghị lập pháp được đề xuất trên cơ sở so sánh chi phí - lợi ích, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho quá trình hoàn thiện thể chế phòng, chống bạo lực gia đình tại Việt Nam.