Tổng quan luận án

Bán hàng đa cấp (Multi-level Marketing) là phương thức cung ứng hàng hóa và dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua mạng lưới nhà phân phối độc lập ở nhiều cấp, nhiều nhánh. Mô hình kinh doanh này ra đời tại Mỹ vào những năm 1940 và phát triển trên quy mô toàn cầu với hơn 30.000 công ty áp dụng (theo thống kê của Hiệp hội Bán hàng trực tiếp thế giới). Tại Việt Nam, phương thức bán hàng đa cấp du nhập vào cuối thế kỷ 20 và lần đầu tiên được pháp luật ghi nhận trong Luật Cạnh tranh năm 2004, tiếp đó là Nghị định 110/2005/NĐ-CP, Nghị định 42/2014/NĐ-CP và Nghị định 40/2018/NĐ-CP.

Bên cạnh những đóng góp về việc làm, ngân sách và lưu thông hàng hóa, hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam nảy sinh nhiều biến tướng tiêu cực, xuất hiện các mô hình "kim tự tháp ảo", hành vi lừa đảo lòng tin của người tiêu dùng và người tham gia mạng lưới, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận theo hướng luật học hoặc kinh doanh đơn lẻ, thiếu vắng công trình nghiên cứu hệ thống và trực diện dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế. Vì vậy, luận án tiến sĩ "Quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp ở Việt Nam" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hương Giang (2019) giải quyết yêu cầu cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế ở nước ta.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: Hệ thống hóa và phát triển thêm một bước cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp.

Luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp, quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học lý luận và thực tiễn cho Việt Nam.
  2. Thứ hai: Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018, đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra.
  3. Thứ ba: Xây dựng quan điểm, định hướng và đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận (khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, 3 nội dung quản lý, 2 công cụ quản lý chính, tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng) và thực trạng thực thi các nội dung, công cụ quản lý bán hàng đa cấp tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên phạm vi toàn quốc và khảo sát thực tế tại một số địa phương (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum...).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng giai đoạn 2006 - 2018; đề xuất định hướng và giải pháp đến năm 2025 và những năm tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về bán hàng đa cấp:

  • Richard Poe (2003, 2013) trong "Làn sóng thứ ba" và "Làn sóng thứ tư – Kinh doanh theo mạng thế kỉ 21" phân chia lịch sử bán hàng đa cấp thành 4 giai đoạn phát triển (1940-1979, 1980-1989, 1990-1999, 2000 đến nay), khẳng định tính hợp pháp và vai trò giải quyết việc làm của mô hình.
  • Sreekumar (2007) phân tích cơ chế đòn bẩy thời gian và tiếp thị cá nhân dựa trên sự giới thiệu chuỗi.
  • Robert Fitzpatrick nghiên cứu về cấu trúc toán học của mô hình kim tự tháp và nguy cơ tiềm ẩn hành vi gian lận.
  • John Kalench (2002, 2012) chỉ ra nguồn gốc bán hàng đa cấp bất chính từ Glen Turner vào cuối thập niên 1960 và phân tích phán quyết của Ủy ban Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) trong vụ kiện Công ty Koscot Interplanetary, Inc.
  • Các ấn phẩm chuyên khảo của Cục Quản lý cạnh tranh (2006, 2011) và Sở Công thương Hà Nội (2018) tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh doanh nghiệp, người tham gia, hợp đồng và chế tài xử lý vi phạm.
  • Các công trình của Bùi Trung Thướng (2011), Lê Hoàng Vũ (2010), Lê Anh Tuấn (2006) khảo sát thực trạng, nhận diện dấu hiệu bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam.

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với kinh tế và hoạt động thương mại:

  • Đào Minh Hồng và Lê Hồng Hiệp (2013) điểm lại tư tưởng chủ nghĩa trọng thương về vai trò kiểm soát của Nhà nước nhằm tối đa hóa an ninh và lợi ích quốc gia.
  • Adam Smith (1776) trong "Sự giàu có của các quốc gia" xác định 3 chức năng cơ bản của Nhà nước và cơ chế "bàn tay vô hình".
  • John Maynard Keynes (1936) với "Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ" nhấn mạnh vai trò "bàn tay hữu hình" và chính sách tài khóa can thiệp vào thị trường.
  • Milton Friedman (1962) ủng hộ kinh tế thị trường tự do, phản đối sự can thiệp của Chính phủ.
  • P.A. Samuelson (1948) đề xuất mô hình kinh tế hỗn hợp kết hợp cơ chế thị trường và điều tiết công quyền.
  • J.K. Galbraith phân tích xu hướng kế hoạch hóa và vai trò kinh tế của Nhà nước trong "xã hội công nghiệp mới".
  • Vũ Tuấn Anh (1994) và Trần Văn Thắng (2004) hệ thống hóa vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước và xác định 9 nhóm nội dung quản lý Nhà nước về thương mại tại Việt Nam.

Nhóm 3: Các nghiên cứu trực diện về quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam:

  • Hoàng Đào Thu Thủy (2012), Lê Anh Tuấn (2006), Đoàn Trung Kiên (2008), Đoàn Văn Bình và Đoàn Trung Kiên (2007) phân tích các bất cập trong pháp luật điều chỉnh bán hàng đa cấp, bản chất pháp lý của hợp đồng tham gia, sự không thống nhất giữa Luật Cạnh tranh và Nghị định 110/2005/NĐ-CP, đề xuất mở rộng phạm vi điều chỉnh sang lĩnh vực dịch vụ.
  • Bùi Trung Thướng (2011) chỉ ra các khó khăn trong quản lý do mạng lưới cá nhân không cố định địa điểm kinh doanh, khó kiểm soát quảng cáo sai sự thật và nguồn lực quản lý mỏng.
  • Lê Bí Bo (2016) trong luận án tiến sĩ luật học phân tích quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  1. Khoảng trống về mô hình: Các nghiên cứu trước chủ yếu mô tả mô hình nguyên thủy nước ngoài hoặc góc độ pháp lý đơn thuần; luận án tiếp cận mô hình bán hàng đa cấp vận hành thực tế tại Việt Nam dưới góc độ quản lý kinh tế, phân tích cấu trúc kênh phân phối, chi phí lưu thông và cơ chế biến tướng thành mô hình "kim tự tháp ảo".
  2. Khoảng trống về công tác quản lý Nhà nước: Luận án nhìn nhận toàn diện vai trò quản lý của Nhà nước qua sự phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; phân công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương; xác lập các yếu tố trụ cột, mục tiêu và tiêu chí đánh giá quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp; đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ gắn với nội dung và công cụ quản lý kinh tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên 3 lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại: Giải thích sự du nhập và phát triển của bán hàng đa cấp như một phương thức phân phối hiện đại trong bối cảnh mở cửa thương mại; đồng thời chỉ rõ sự cần thiết phải can thiệp, điều tiết của Nhà nước để bảo vệ thị trường nội địa, doanh nghiệp chân chính và người tiêu dùng khi xuất hiện các tác động tiêu cực.
  2. Lý thuyết quản lý theo mục tiêu (Management by Objectives - MBO của Peter Drucker, 1954): Được vận dụng từ cấp độ vi mô sang tầm vĩ mô để đánh giá việc thiết lập mục tiêu dài hạn, phân cấp quản lý và kiểm soát thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan quản lý Nhà nước về bán hàng đa cấp.
  3. Lý thuyết các bên tham gia (Stakeholder Theory của R. Edward Freeman, 1984): Sử dụng để bao quát mối quan hệ đa chiều giữa các chủ thể trong mạng lưới quản trị công (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Công thương, chính quyền địa phương, các bộ ngành phối hợp, doanh nghiệp bán hàng đa cấp, nhà phân phối và người tiêu dùng), bảo đảm hài hòa lợi ích và trách nhiệm.

Phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận quản lý kinh tế theo ngành và lãnh thổ. Luận án sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.

Quy trình thu thập dữ liệu thứ cấp bao gồm: các báo cáo của Bộ Công thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Sở Công thương các địa phương (Hà Nội, TP.HCM, Bắc Ninh, Hải Dương, Nghệ An, Gia Lai, Kon Tum...), các văn bản quy phạm pháp luật, dữ liệu của Hiệp hội Bán hàng trực tiếp thế giới (WFDSA) và hiệp hội các quốc gia (Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Singapore).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu chuyên gia theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất:

Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu thu về Số phiếu hợp lệ Phương thức thu thập
Cán bộ quản lý Nhà nước (Cục CT&BVNTD, Sở Công thương Hà Nội, TP.HCM, Bắc Ninh, Hưng Yên) 50 48 46 Phát phiếu trực tiếp, email
Doanh nghiệp bán hàng đa cấp (33 doanh nghiệp: 5 quản lý, 5 nhân viên kinh doanh/DN) 330 300 280 Phát phiếu trực tiếp, gửi email
Người tham gia bán hàng đa cấp (Nhà phân phối) 120 115 112 Phát phiếu trực tiếp, gọi điện thoại
Phỏng vấn chuyên gia (20 cán bộ QLNN, 20 quản lý DN, 20 chuyên gia kinh tế) 60 60 60 Phỏng vấn trực tiếp theo phiếu hỏi

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo ba nhánh: nghiên cứu về phương thức bán hàng đa cấp, nghiên cứu lý luận quản lý Nhà nước về thương mại, và các nghiên cứu trực diện về quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam. Luận án phân tích các luận điểm của Richard Poe, Robert Fitzpatrick, John Kalench, Adam Smith, J.M. Keynes, Milton Friedman, P.A. Samuelson, Trần Văn Thắng, Lê Bí Bo... Từ đó, tác giả xác định hai khoảng trống nghiên cứu chính về mô hình thực tế và hệ thống tiêu chí, giải pháp quản lý Nhà nước dưới góc độ quản lý kinh tế. Chương này cũng trình bày khung lý thuyết (Tự do hóa/Bảo hộ thương mại, MBO, Stakeholder Theory), thiết lập sơ đồ quy trình nghiên cứu gồm 6 bước logic, mô tả phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, thiết kế mẫu điều tra sơ cấp (438 phiếu khảo sát hợp lệ và 60 phiếu phỏng vấn chuyên gia) cùng các kỹ thuật phân tích, thống kê mô tả.

CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁN HÀNG ĐA CẤP

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của bán hàng đa cấp là hình thức phân phối trực tiếp từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng qua một cấp đại diện là nhà phân phối, giúp tiết kiệm chi phí trung gian, lưu kho và quảng cáo truyền thống (nhà phân phối có thể hưởng tới 51% lợi nhuận bán hàng theo sơ đồ chi phí tác giả xây dựng). Tác giả phân định rõ đặc điểm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính (doanh thu chính từ bán sản phẩm chất lượng, đào tạo nhà phân phối chuyên nghiệp) và bán hàng đa cấp bất chính (mô hình "kim tự tháp ảo", lợi nhuận dựa vào việc lôi kéo, thu phí hoặc ép người mới mua hàng).

Luận án đưa ra định nghĩa: Quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp là sự tác động có hướng đích và có tổ chức của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước các cấp đối với bán hàng đa cấp nhằm đạt các mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ. Tác giả xác lập khung lý luận gồm:

  • 3 nội dung quản lý Nhà nước: (1) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; (2) Xây dựng tổ chức bộ máy và phát triển nhân lực quản lý; (3) Thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
  • 2 công cụ quản lý chính: Công cụ pháp luật - chính sách và công cụ hành chính - tổ chức.
  • Tiêu chí đánh giá: Tính hoàn thiện của hệ thống văn bản, năng lực bộ máy, mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và người tham gia, hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng và giảm thiểu vi phạm.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát mô hình quản lý của các nước khởi nguồn và khu vực (Mỹ, Canada, Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia), rút ra 4 bài học cho Việt Nam: hoàn thiện định nghĩa pháp lý rõ ràng, phân định thẩm quyền quản lý chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, tăng cường chế tài răn đe và đẩy mạnh truyền thông cảnh báo công chúng.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM

Chương 3 phân tích thực trạng phát triển của bán hàng đa cấp và công tác quản lý Nhà nước tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018 qua các mốc pháp lý từ Nghị định 110/2005/NĐ-CP, Nghị định 42/2014/NĐ-CP đến Nghị định 40/2018/NĐ-CP. Tác giả tổng hợp số liệu về quy mô thị trường (doanh thu theo mặt hàng, số lượng doanh nghiệp được cấp phép, biến động số lượng người tham gia qua các năm) và mô hình tổ chức bộ máy quản lý từ Bộ Công thương (Cục Quản lý cạnh tranh / Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) đến UBND cấp tỉnh (Sở Công thương).

Dựa trên dữ liệu điều tra thực tế, chương 3 làm rõ thực trạng thực thi qua 9 bảng khảo sát định lượng:

STT Bảng Tên nội dung bảng số liệu trong văn bản luận án
Bảng 3.1 Đánh giá của cơ quan quản lý Nhà nước về các hành vi vi phạm trong bán hàng đa cấp
Bảng 3.2 Đánh giá của các cán bộ quản lý về việc thực hiện trách nhiệm quản lý bán hàng đa cấp của các cơ quan quản lý Nhà nước về bán hàng đa cấp
Bảng 3.3 Đánh giá của các doanh nghiệp đối với bán hàng đa cấp về văn bản quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Bảng 3.4 Đánh giá của cơ quan quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp về văn bản quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Bảng 3.5 Đánh giá của người tham gia bán hàng đa cấp về văn bản quản lý bán hàng đa cấp ở Việt Nam
Bảng 3.6 Đánh giá của các cán bộ QLNN về công tác tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực thi chính sách, pháp luật quản lý bán hàng đa cấp
Bảng 3.7 Thống kê các hành vi bán hàng đa cấp bất chính bị xử lý
Bảng 3.8 Đánh giá của cán bộ quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý và giải quyết khiếu nại, vi phạm đối với BHĐC
Bảng 3.9 Đánh giá của người tham gia về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý và giải quyết khiếu nại, vi phạm đối với BHĐC

Đánh giá chung về thực trạng:

  • Kết quả đạt được: Đã từng bước hình thành khung pháp lý điều chỉnh (ban hành Nghị định 40/2018/NĐ-CP với nhiều quy định siết chặt điều kiện gia nhập thị trường, minh bạch hóa trả thưởng); thiết lập mạng lưới cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương; phát hiện và xử lý nhiều vụ việc sai phạm lớn, thu hồi giấy phép của nhiều công ty hoạt động bất chính.
  • Hạn chế: Hệ thống văn bản pháp luật còn độ trễ, chưa bao quát các giao dịch trên môi trường điện tử; bộ máy quản lý tại địa phương mỏng, cán bộ kiêm nhiệm thiếu chuyên môn; công tác phối hợp liên ngành (công thương, công an, y tế, thuế) chưa đồng bộ; thanh tra, giám sát chưa kịp thời; công tác tuyên truyền, cảnh báo đến người dân vùng nông thôn còn hạn chế.
  • Nguyên nhân hạn chế: Do tính chất phức tạp, mạng lưới nhà phân phối không có địa điểm kinh doanh cố định; tâm lý người tham gia muốn kiếm tiền nhanh; chế tài xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe; kinh phí và nguồn lực quản lý còn hạn hẹp.

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM

Chương 4 đưa ra bối cảnh kinh tế - xã hội, xu hướng phát triển của bán hàng đa cấp và định hướng quản lý Nhà nước đến năm 2025. Tác giả xác lập hệ thống quan điểm, mục tiêu và đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước:

  1. Giải pháp về bộ máy quản lý và phân định chức năng, nhiệm vụ: Củng cố tổ chức bộ máy chuyên trách tại Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng; phân định rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát giữa cơ quan Trung ương và các Sở Công thương địa phương; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công thương, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Tài chính và chính quyền cơ sở.
  2. Giải pháp về nhân sự và công tác cán bộ: Bổ sung biên chế, tổ chức tập huấn chuyên môn nghiệp vụ quản lý thương mại và kỹ năng điều tra hành vi bán hàng đa cấp bất chính cho đội ngũ cán bộ công chức cấp tỉnh, huyện.
  3. Giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp quản lý: Tiếp tục rà soát, bổ sung các quy định hướng dẫn chi tiết Nghị định 40/2018/NĐ-CP; quy định chặt chẽ danh mục hàng hóa được kinh doanh đa cấp; xây dựng chuẩn mực quy tắc ứng xử nghề nghiệp; áp dụng công nghệ thông tin trong giám sát mạng lưới và dữ liệu trả thưởng của doanh nghiệp.
  4. Giải pháp về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Đa dạng hóa các kênh truyền thông, đưa nội dung cảnh báo dấu hiệu lừa đảo đa cấp về tận các thôn, bản vùng sâu, vùng xa; công khai kịp thời danh sách doanh nghiệp được cấp phép và các đơn vị bị xử phạt, thu hồi giấy phép.
  5. Giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm: Tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất các hội nghị, hội thảo giới thiệu sản phẩm; tăng mức phạt tiền và áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc đối với các hành vi lừa đảo, kinh doanh đa cấp không phép; xây dựng cơ chế tiếp nhận và xử lý nhanh khiếu nại của người tiêu dùng và người tham gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và bổ sung lý luận về bán hàng đa cấp và quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Xác lập định nghĩa khoa học về quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp, chỉ rõ cấu trúc 3 nội dung quản lý, 2 công cụ chính, các yếu tố trụ cột và mục tiêu quản lý.
  • Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp kết hợp giữa định tính và định lượng.

Về mặt thực tiễn:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng phát triển của bán hàng đa cấp và công tác quản lý Nhà nước đối với phương thức này ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018 dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý và dữ liệu điều tra sơ cấp thực tế từ cán bộ quản lý, doanh nghiệp và nhà phân phối.
  • Làm rõ các nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự biến tướng của mô hình bán hàng đa cấp tại Việt Nam trong thực tế thực thi thể chế.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp khả thi, có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện bộ máy, nhân lực, thể chế, tuyên truyền và thanh tra xử lý vi phạm trong quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi mẫu khảo sát: Do giới hạn nguồn lực của một luận án tiến sĩ cá nhân, quy mô mẫu điều tra sơ cấp (46 cán bộ quản lý, 280 mẫu từ 33 doanh nghiệp, 112 người tham gia) được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện phi xác suất tại một số địa phương trọng điểm, chưa bao phủ toàn bộ các tỉnh, thành phố trên cả nước.
  • Về mốc thời gian: Luận án kết thúc việc thu thập số liệu thực trạng ở năm 2018, thời điểm Nghị định 40/2018/NĐ-CP vừa có hiệu lực thi hành (từ 01/05/2018), do đó chưa đánh giá được toàn diện tác động dài hạn của văn bản pháp lý mới này trong thực tiễn nhiều năm sau đó.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô điều tra ngẫu nhiên xác suất trên phạm vi toàn quốc để nâng cao tính đại diện của dữ liệu.
  • Nghiên cứu đánh giá sâu tác động thực thi của Nghị định 40/2018/NĐ-CP sau giai đoạn 2018 - 2025.
  • Nghiên cứu các mô hình quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp tích hợp trên nền tảng thương mại điện tử và không gian mạng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng:

  • Cơ quan quản lý Nhà nước và người làm chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Bộ Công thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Sở Công thương các tỉnh, thành phố trong việc hoàn thiện thể chế, quy hoạch bộ máy và nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh đa cấp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên: Cung cấp khung lý luận, tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu trong các môn học Quản lý kinh tế, Quản lý Nhà nước về thương mại, Kinh tế thương mại và Luật kinh tế.
  • Doanh nghiệp bán hàng đa cấp và nhà phân phối: Hỗ trợ nhận diện rõ khung khổ pháp lý, quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam, góp phần định hướng hoạt động kinh doanh chân chính và minh bạch.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt bán hàng đa cấp chân chính và bán hàng đa cấp bất chính dựa trên những dấu hiệu bản chất nào? Doanh nghiệp bán hàng đa cấp chân chính có hoạt động cốt lõi là bán hàng, tiêu thụ sản phẩm chất lượng có xuất xứ rõ ràng; doanh thu và hoa hồng chi trả cho nhà phân phối phát sinh từ hoạt động bán lẻ sản phẩm thực tế đến tay người tiêu dùng. Ngược lại, doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính không chú trọng bán hàng mà tập trung lôi kéo, tuyển dụng người tham gia; yêu cầu người mới phải đóng phí hoặc mua lượng hàng hóa ban đầu khi chưa có nhu cầu; duy trì hoạt động bằng nguồn tiền của người vào sau chi trả cho người vào trước theo mô hình "kim tự tháp ảo".

2. Cơ cấu chi phí và phân chia lợi nhuận trong bán hàng đa cấp được tác giả mô tả như thế nào so với bán hàng truyền thống? Trong kênh phân phối truyền thống, hàng hóa từ nhà sản xuất phải qua nhiều cấp trung gian (bán buôn, bán lẻ), chịu chi phí kho bãi, vận chuyển và quảng cáo rất lớn. Trong bán hàng đa cấp, hàng hóa được phân phối trực tiếp từ nhà sản xuất qua mạng lưới nhà phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng; doanh nghiệp tiết kiệm chi phí trung gian và quảng bá thương hiệu, từ đó dành tối đa tới 51% lợi nhuận để chi trả hoa hồng, tiền thưởng cho nhà phân phối theo sơ đồ chi phí lưu thông được xây dựng trong chương 2.

3. Khảo sát thực tế của luận án được tiến hành với quy mô mẫu và các đối tượng nào? Tác giả đã thu thập 438 phiếu khảo sát hợp lệ gồm: 46 phiếu từ cán bộ quản lý Nhà nước (thuộc Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Sở Công thương Hà Nội, TP.HCM, Bắc Ninh, Hưng Yên); 280 phiếu từ 33 doanh nghiệp bán hàng đa cấp (mỗi doanh nghiệp khảo sát nhà quản lý và nhân viên kinh doanh); 112 phiếu từ người tham gia bán hàng đa cấp. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 60 chuyên gia (20 cán bộ quản lý, 20 nhà quản lý doanh nghiệp và 20 chuyên gia kinh tế).

4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp tại Việt Nam? Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Kiện toàn bộ máy quản lý và phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương; (2) Đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát; (3) Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, ban hành quy tắc ứng xử nghề nghiệp; (4) Đẩy mạnh tuyên truyền, cảnh báo đến người dân cơ sở; (5) Tăng cường thanh tra, giám sát hội nghị, hội thảo và nâng cao chế tài xử phạt nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Kết luận

Luận án "Quản lý Nhà nước đối với bán hàng đa cấp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hương Giang là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, giải quyết toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá bức tranh thực tiễn quản lý phương thức bán hàng đa cấp tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018. Thông qua việc kết hợp các lý thuyết kinh tế hiện đại với phương pháp khảo sát định lượng, luận án đã làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, biến tướng trong hoạt động kinh doanh đa cấp và sự bất cập của bộ máy quản lý công quyền thời gian qua. Các phát hiện và 5 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, nhân lực, tuyên truyền và thanh tra xử lý vi phạm có giá trị ứng dụng thực tiễn đối với các cơ quan quản lý thương mại và là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo quản lý kinh tế ở nước ta.