MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu TĐG được các nước trên thế giới xác định là một loại hình dịch vụ rất cần thiết đối với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, được phát triển và thừa nhận như là một nghề bắt đầu từ thập kỷ 40 của Thế kỷ XX trở lại đây. Tại Việt Nam, TĐG du nhập vào nước ta từ những năm 1993-1994, khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về TĐG tài sản trong xã hội ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu phải đưa TĐG tài sản trở thành một nghề - một loại hoạt động dịch vụ tư vấn mang tính chuyên nghiệp, độc lập, khách quan - đủ năng lực hoạt động nhằm phát huy tốt vai trò của mình, từ đó góp phần bảo đảm lợi ích chính đáng của các bên tham gia thị trường.
Từ khi hoạt động cung ứng DVTĐG ra đời và được pháp luật thừa nhận cho đến nay, nhiều DNTĐG bằng thực lực của mình đã tạo ra được một số lợi thế cạnh tranh nhất định, sử dụng nhiều công cụ marketing để giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường như: đa dạng hóa dịch vụ, cạnh tranh bằng chất lượng, bằng giá cả (đấu thầu, chào giá cạnh tranh, thỏa thuận giá…), bằng nghệ thuật tuyên truyền, quảng bá, bằng các chính sách hỗ trợ, phục vụ khách hàng… theo quy định của pháp luật đã tạo ra khá nhiều lợi ích cho xã hội và cho bản thân DN của mình. Thời gian gần đây thị trường DVTĐG ở nước ta đã phát triển mạnh hơn, số lượng DNTĐG được thành lập mới nhiều hơn làm tăng quá trình cạnh tranh trong hoạt động cung cấp DVTĐG. Bên cạnh những DN tổ chức hoạt động có bài bản, nhiều DN đã, đang có xu hướng sử dụng các hình thức cạnh tranh không lành mạnh như thông đồng để thao túng thị trường, sử dụng mối quan hệ riêng với các cơ quan chức năng để tiếp cận khách hàng, đặc biệt là các hình thức cạnh tranh về giá cả dịch vụ và cạnh tranh phi giá cả dịch vụ để giành giật thị trường và khách hàng TĐG, cụ thể như: (i) Giảm tới 50% - 60% mức giá dịch vụ mà DN đã công bố. Chào giá dịch vụ thấp hơn nhiều, thậm chí chỉ bằng một nửa mức chào giá của DN khác cùng tham gia cung ứng DVTĐG cùng một loại tài sản cho cùng một khách hàng TĐG; (ii) Chào giá DVTĐG ở mức thấp đi liền với việc thỏa thuận ngầm với khách hàng TĐG về “chiết khấu”, “hoa hồng” không phù hợp với quy định của Luật luan an 2 Cạnh tranh, thậm chí chấp nhận lỗ để được khách hàng lựa chọn cho các nhu cầu TĐG tiếp theo; (iii) Sẵn sàng chấp nhận các điều kiện của khách hàng không phù hợp với quy định của pháp luật về TĐG (thời gian, hợp đồng, mức giá tài sản thẩm định …) nhất là khách hàng có nhu cầu TĐG tài sản nhà nước phục vụ chủ trương mua sắm, bán, thanh lý tài sản, cổ phần hóa DN nhà nước (TĐG cao khi mua, giá thấp khi bán tài sản nhà nước; Xác định giá tài sản trong thế chấp vay vốn ngân hàng cao không phù hợp với giá thị trường góp phần gây nợ xấu của nền kinh tế); (iv) Cung ứng DVTĐG với mức giá thỏa thuận đi kèm với cung ứng một loại dịch vụ tư vấn khác không thu tiền, tung tin thất thiệt về giá dịch vụ của DN khác, để lôi kéo khách hàng về phía mình.
Thực trạng trên đã gây ra những hệ quả xấu như: (i) Đã xuất hiện tình trạng hoạt động của “thị trường ngầm” về giá DVTĐG, đẩy thị trường này vào hoạt động trong tình trạng thiếu công khai, minh bạch, tạo nghi ngờ cho khách hàng về nghề, về năng lực chuyên môn, về đạo đức nghề nghiệp, về chất lượng dịch vụ trong kinh doanh của DN, làm giảm uy tín, thương hiệu của nhiều DN làm ăn tốt, tuân thủ pháp luật trên thị trường; (ii) Gây thiệt hại đến chính lợi ích của bản thân các DNTĐG – không những chỉ thiệt hại về lợi ích kinh tế mà thiệt hại thậm chí liên quan đến lĩnh vực hình sự khi TĐG tài sản được mua sắm từ nguồn ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, qua đó tạo ra sự phân hóa trong các DNTĐG; (iii) Giá dịch vụ thấp bất hợp lý (thấp hơn chi phí bỏ ra) nên đã có tình trạng không thực hiện đầy đủ quy trình TĐG, tiêu chuẩn TĐG… dẫn đến chất lượng dịch vụ thấp, gây thiệt hại đến lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường DVTĐG. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: (i) Môi trường pháp lý để kiểm soát hoạt động cung ứng DVTĐG chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện; (ii) Quy mô DN nhỏ và năng lực tổ chức quản trị của các chủ DNTĐG còn nhiều hạn chế. Trong những năm qua, DNTĐG phát triển rất nhanh (thậm chí có ý kiến cho là phát triển “nóng”) nhưng đại đa số các DNTĐG là các DN vừa và nhỏ, thậm chí có DN “rất nhỏ”.
Là một ngành kinh doanh có điều kiện, nhưng việc quy định thành lập DN quá dễ dàng (chỉ cần có 3 Thẻ TĐV mà chưa có các quy định ràng buộc khác) nên việc đầu tư các nguồn lực cho hoạt động TĐG khá hạn chế (tài chính, hạ tầng thông tin, cơ sở luan an 3 vật chất kỹ thuật, nhân lực…). Bên cạnh đó, năng lực quản lý, điều hành của các DN còn bất cập, nhiều DN chưa có các chiến lược kinh doanh lâu dài để phát triển bền vững do vậy thường chỉ chú trọng đến các biện pháp cạnh tranh “không phù hợp với các quy chuẩn” để giành giật thị trường và khách hàng dẫn đến chất lượng dịch vụ của các DNTĐG còn có sự chênh lệch nhau khá lớn; (iii) Số lượng TĐV tăng nhanh về số lượng, nhưng chất lượng còn hạn chế, chưa được đào tạo bài bản về tập quán, đạo đức kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh. Đồng thời ý thức kinh doanh, cạnh tranh dựa trên chất lượng dịch vụ cung cấp chưa phổ biến ở nhiều TĐV và DNTĐG. Bên cạnh những bất cập, vướng mắc ở hiện tại, với nhu cầu DVTĐG những năm tới ngày càng gia tăng đã và đang đặt các DNTĐG ở Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro, khó khăn, thách thức.
Trong điều kiện thị trường DVTĐG ở Việt Nam chưa hoàn thiện, mức độ phức tạp, tinh vi của các hành vi vi phạm pháp luật về TĐG có xu hướng tăng cho thấy sự cần thiết cấp bách phải tiếp tục nghiên cứu để không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác QLNN về DVTĐG. Để hướng hoạt động cung ứng DVTĐG dựa vào chất lượng dịch vụ, uy tín nghề nghiệp, thương hiệu nhằm ngăn ngừa rủi ro, phát triển bền vững của các DNTĐG, góp phần làm cho thị trường TĐG hoạt động công khai, minh bạch, tuân thủ pháp luật về TĐG, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và góp sức thực hiện chủ trương chống tham nhũng, lợi ích nhóm, nợ xấu của nền kinh tế, lãng phí nguồn lực của xã hội thì việc nâng cao năng lực hoạt động của các DNTĐG Việt Nam là việc làm có tính cấp thiết. Từ thực trạng những hạn chế, bất cập và yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN về DVTĐG giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo, NCS lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về dịch vụ thẩm định giá ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.
Các nghiên cứu về mô hình thẩm định giá Có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình TĐG. NCS xin nêu một số công trình tiêu biểu: luan an 4 “Investment Valuation: Tools and Techniques for Determining the Value of Any Asset 3rd Edition” – Thẩm định giá đầu tư: Các công cụ và kỹ thuật để xác định giá trị của tài sản bất kỳ (ấn bản lần thứ 3) của Aswath Damodaran (1996). Tài liệu giới thiệu đến độc giả những mô hình TĐG tiêu biểu và những kĩ năng có thể áp dụng trong việc thẩm định tài sản trong nhiều tình huống cụ thể. “Damodaran on Valuation: Security Analysis for Investment and Corporate Finance 2nd Edition” – Damodaran về thẩm định giá: Phân tích bảo mật cho đầu tư và tài chính doanh nghiệp (ấn bản lần thứ 2) của Aswath Damodaran (2006).
Tài liệu cung cấp những thông tin cơ bản về các mô hình TĐG hiện nay, đồng thời phát triển tư duy cần thiết cho những tình huống TĐG cụ thể. “Asset Pricing” – Định giá tài sản của John H. Trong tài liệu này, tác giả đưa ra phân tích về các mô hình TĐG khác nhau, dựa trên chi tiêu, CAPM, đa yếu tố, có lựa chọn, từ đó mỗi mô hình sẽ đóng vai trò là cơ sở để tính toán ra các hệ số chiết khấu. “The Little Book of Valuation: How to Value a Company, Pick a Stock and Profit” – Sổ tay về thẩm định giá: Cách thẩm định giá công ty, chọn cổ phiếu và lợi nhuận của Aswath Damodaran (2011).
Tài liệu giới thiệu đến độc giả những mô hình TĐG tiêu biểu và những kĩ năng có thể áp dụng trong việc TĐG DN trong nhiều tình huống cụ thể. “Financial Modeling and Valuation: A Practical Guide to Investment Banking and Private Equity” – Mô hình hóa tài chính và thẩm định giá: Hướng dẫn thiết thực về đầu tư ngân hàng và vốn cổ phần tư nhân của Paul Pignataro (2013). Tài liệu cung cấp những hướng dẫn xây dựng một mô hình tài chính và TĐG dựa theo mô hình Wall Streets, bao gồm báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo dòng tiền, bảng cân đối kế toán, các kĩ thuật thiết lập bảng cân đối kế toán, kế hoạch chiết khấu. “Valuation: The Art and Science of Corporate Investment Decisions (3rd Edition)” – Thẩm định giá: Nghệ thuật và khoa học về quyết định đầu tư của công ty (Ấn bản lần thứ 3) của Sheridan Titman (2015).
Tài liệu cung cấp một cái nhìn tổng quan cũng như một số phương pháp trong TĐG. “Art of M&A Valuation and Modeling: A Guide to Corporate Valuation” – Nghệ thuật thẩm định giá và mô hình hóa M & A: Hướng dẫn thẩm định giá doanh luan an 5 nghiệp của H. Peter, Nesvold, Elizabeth, Bloomer (2015). Tài liệu cung cấp những kiến thức cơ bản về TĐG DN, phân tích sử dụng những mô hình thẩm định khác nhau và phòng tránh những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thẩm định.
“Financial Valuation: Applications and Models” – Thẩm định giá tài chính: Các ứng dụng và mô hình của James R.