Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm người khuyết tật Trước khi đưa ra khái niệm, chúng ta cần phân biệt giữa hai cụm từ khuyết tật và tàn tật. Trong tiếng Việt, khuyết tật và tàn tật để chỉ cùng một khái niệm, hiện nay người ta vẫn dùng song song trên phương tiện thông tin đại chúng và các văn bản pháp quy, một số nhà khoa học cho rằng, khuyết tật hay tàn tật chẳng qua là tên gọi, nhãn mác cho khái niệm, không nên chú trọng vào việc mổ xẻ câu chữ, điều quan trọng hơn cả là thái độ và hành động thực tế, cách chúng ta ứng xử thế nào đối với người khuyết tật.
Tuy nhiên, xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng khái niệm khuyết tật thay cho tàn tật, trong văn bản luật cũng sử dụng khái niệm khuyết tật và người khuyết tật. Đồng thời, theo quan điểm xã hội hiện nay và quan điểm của người khuyết tật chỉ mong muốn sử dụng khái niệm người khuyết tật thay cho tàn tật vì nó mang sắc thái cảm xúc tích cực hơn. Các nhà khoa học Việt Nam cho rằng từ khiếm khuyết đến khuyết tật là một quá trình, xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau (do bệnh tật di truyền, tai nạn, chấn thương…). Khuyết tật phải đảm bảo cả hai điều kiện: có khiếm khuyết và khiếm khuyết ấy ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống.
Nói về khiếm khuyết, đó là vấn đề không thể tránh khỏi của bất cứ con người nào, vì không có ai sinh ra trên thế gian này được hoàn hảo ở tất cả các phương diện. Có rất nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật xuất phát từ sự đa dạng về khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ 10 Luan van đo lường và đánh giá, cũng như sự khác biệt văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật. * Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận”. * Điều 1, Công ước về quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006, quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trọng một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ với hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [9] * Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã không ngừng đưa ra những định nghĩa chung cho khuyết tật từ những năm 1976, năm 1998 WHO đưa ra cách phân loại quốc tế về suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật (ICIDH) đã là một hệ thống tiên phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật… Theo cách hiểu của WHO các thuật ngữ suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có nội hàm khác nhau: - Suy giảm chức năng chỉ những người có vấn đề về thể chất.
- Khuyết tật: Những hạn chế trong sinh hoạt do suy giảm chức năng gây nên. - Tàn tật: Là hạn chế hay thiếu hụt (do một khuyết tật) khả năng thực hiện vai trò trong xã hội. Như vậy, suy giảm chức năng nói đến việc một bộ phận cơ thể có những bất thường về cấu tạo hoặc chức năng, khuyết tật nói đến ảnh hưởng của suy 11 Luan van giảm chức năng tới việc thực hiện các hoạt động của con người và tàn tật là chỉ kết quả chung của suy giảm hệ thống hay khuyết tật. Tóm lại: Người khuyết tật là người mất hoặc giảm khả năng do tàn tật dẫn tới gặp khó khăn và trở ngại trong các hoạt động sinh hoạt, học tập và đời sống.
* Đối với Việt Nam: Người khuyết tật là người không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận của cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn. Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “Người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này, “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Khái niệm bảo trợ xã hội.
An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế- xã hội đã làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo trợ xã hội và trợ giúp đặc biệt. 12 Luan van Tiếp cận từ góc độ kinh tế thì bảo trợ xã hội được hiểu như là biện pháp, công cụ thực hiện mục đích bảo vệ cuộc sống của con người, đặc biệt là những người khó khăn, yếu thế cần giúp đỡ. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm về “bảo trợ xã hội” là “những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh về thu nhập” [23, tr.16] … Những biện pháp công cộng theo WB là những khoản trợ cấp và cả cơ hội cho đối tượng vượt qua hoàn cảnh nhằm đạt được ba mục đích phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro của con người. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đưa ra khái niệm về bảo trợ xã hội là “sự bảo vệ con người khi không còn khả năng tạo ra thu nhập”.
Nội dung của bảo trợ xã hội chỉ là những khoản trợ cấp từ Nhà nước nhằm chi trả cho những đối tượng cần sự giúp đỡ để tồn tại, nòng cốt của bảo trợ xã hội tập trung vào các chế độ bảo hiểm tuổi già, chế độ tiền tuất và các khoản phúc lợi xã hội cho đối tượng khó khăn. Tiếp cận từ góc độ đảm bảo quyền con người gắn với vấn đề đảm bảo mức sống, theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), bảo trợ xã hội là “sự đảm bảo thực hiện quyền con người được sống trong hòa bình, tự do làm ăn, cư trú, được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và bảo vệ thu nhập”. Theo đó, nội dung của bảo trợ xã hội rất rộng lớn, bao trùm lên các lĩnh vực của đời sống con người hướng tới việc đảm bảo quyền con người. Ở phạm vi hẹp hơn, ILO tiếp cận khái niệm bảo trợ xã hội như một trong những nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội thông qua những khoản trợ cấp từ tài chính công.
Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh. Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không có thuật ngữ "Bảo trợ xã 13 Luan van hội" mà chỉ có khái niệm "Trợ giúp xã hội" (social assistance) là: “Sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận”. Tóm lại, Bảo trợ xã hội là sự hỗ trợ của nhà nước, xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và những hình thức khác nhau đối với các đối tượng “yếu thế” trong xã hội như bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, cùng kiệt đói vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến khả năng không tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân, nhằm giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. Khái niệm bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Xuất phát từ khái niệm bảo trợ xã hội nói chung, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.
Theo đó, các nội dung của bảo trợ xã hội nói chung áp dụng với đối tượng hưởng là người khuyết tật khi thỏa mãn các điều kiện hưởng trong các chế độ trợ cấp, hỗ trợ. Trên quan điểm tiến bộ, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được tiếp cận từ góc độ nhân quyền với trách nhiệm của nhà nước chứ không chỉ dừng lại ở mục đích nhân đạo, ban ơn, chiếu cố tới những thân phận khiếm khuyết về sức khỏe. Các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho cuộc sống của người khuyết tật được thực hiện như một sự phân phối lại lợi ích xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia trong tương quan phát triển kinh tế và xã hội. Không chỉ dừng lại ở đó, việc nhìn nhận người khuyết tật như một dạng trong đa dạng các thành viên xã hội và khơi gợi khả năng lao động tiểm ẩn trong họ là một trong những tư tưởng tiến bộ để các khoản 14 Luan van trợ cấp bảo trợ xã hội không còn ý nghĩa đơn thuần là gánh nặng cho ngân sách nhà nước mà chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, với mục tiêu vì con người – trung tâm của sự phát triển.