Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1. Cơ sở lý luận của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam Trong những thập kỷ gần đây, ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề nghiêm trọng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Các vấn đề về ô nhiễm đã khiến người dân trên khắp trái đất phải đương đầu với nhiều bệnh dịch có sức tàn phá khủng khiếp.
Theo một báo cáo của Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD), tới năm 2050, ô nhiễm môi trường sẽ trở thành “kẻ sát nhân” khiến 3,6 triệu người chết mỗi năm. Bên cạnh đó, những thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã tàn phá nặng nề nền kinh tế như các chi phí khám, chữa bệnh, tổn thất sức lao động, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản v.v… Những hội nghị quốc tế về môi trường như Hội nghị Stockholm năm 1972, Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio năm 1992, Tuyên bố thiên niên kỉ năm 2000, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững năm 2002 v.v… đã gióng lên những hồi chuông cảnh báo về những thảm họa do ô nhiễm môi trường gây ra. Tại Việt Nam, ngay từ giai đoạn rất sớm của quá trình phát triển đất nước theo con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc những hệ lụy của ô nhiễm môi trường và đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, dưới nhiều hình thức, vừa mang tính chiến lược nhưng cũng hết sức cụ thể để bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, trước sự gia tăng của các hành vi gây ô nhiễm ngày càng đa dạng và phức tạp. Biện pháp đầu tiên phải kể tới, đó là sự ghi nhận tại văn bản pháp lý 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cao nhất của Nhà nước ta là Hiến pháp.
Tại Điều 29, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” [46, Điều 29]. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau đối với các hành vi xâm phạm tới môi trường nói chung và hành vi gây ô nhiễm môi trường nói riêng. Tại BLHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, lần đầu tiên các nhà làm luật của nước ta đã dành hẳn một chương riêng – Chương XVII.
Các tội phạm về môi trường, trong đó có 03 điều luật (Điều 182. Tội gây ô nhiễm không khí; Điều 183. Tội gây ô nhiễm nguồn nước và Điều 184. Tội gây ô nhiễm đất) là cơ sở đầu tiên cho việc quy định cho hành vi gây ô nhiễm môi trường được quy định tại Điều 182 BLHS hiện hành.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra những sản phẩm mới trên cơ sở những dạng vật chất mới, trong số đó đa phần là các chất nhân tạo, khó phân hủy khi hết hạn sử dụng hoặc sinh ra sau khi sản xuất xong sản phẩm. Mặc dù vậy, không phải sản phẩm nào cũng có thể tái chế hoặc trong quá trình sản xuất không có những sản phẩm dư thừa thải ra môi trường sống của con người gây những tác động tiêu cực đến sức khỏe, sinh hoạt, thực phẩm v.v… mà không bị kiểm soát triệt để. Những hành vi thải vào không khí, nguồn nước, đất đai những chất gây ô nhiễm môi trường ngày càng diễn ra phổ biến ở nước ta tại những nơi tập chung các khu công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề v.v… đã ngày càng đặt ra yêu cầu phải có một chế tài đủ mạnh không chỉ đơn giản là xử lý vi phạm hành chính mà phải được tội phạm hóa đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường thực sự nguy hiểm cho xã hội. Trong xu hướng của chính sách hình sự nước ta, việc sử dụng vai trò của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ môi trường trước các hành vi gây ô nhiễm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com môi trường ngày càng được sử dụng nhiều hơn với mức độ quyết liệt hơn.
Việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành được dựa trên những cơ sở lý luận sau: Thứ nhất, yêu cầu khách quan của việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ô nhiễm môi trường xuất phát từ tính nguy hiểm ngày càng cao của các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện lực lượng sản xuất thấp kém, nền kinh tế thị trường chưa hoàn thiện và việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên không được kiểm soát chặt chẽ đã làm cho môi trường nông thôn bị suy thoái nghiêm trọng. Việc phát triển kinh tế đô thị cũng làm cho môi trường tại chính các đô thị này ngày càng ô nhiễm nặng nề. Những hành vi gây ô nhiễm môi trường không chỉ tập chung tại các khu công nghiệp, làng nghề hay xuất nhập khẩu mà hiện nay lan rộng sang cả lĩnh vực y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo tồn thiên nhiên v.v… Tính chất và mức độ của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, tinh vi và khó phát hiện.
Ví dụ, năm 2008, Công ty Vedan bị phát hiện đã bí mật xả thải ra sông Thị Vải, trong suốt 14 năm. Đứng trước những thách thức do sự gia tăng tính nguy hiểm ngày càng cao của các hành vi gây ô nhiễm môi trường, việc đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa bằng biện pháp hình sự là cần thiết. Thứ hai, biện pháp hình sự chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các biện pháp của nhà nước để bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm. Hiện nay, các biện pháp bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của Nhà nước bao gồm các biện pháp, cụ thể: 1) Các biện pháp mang tính chính trị, bao gồm việc xác định các phương hướng cơ bản của chiến lược bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm; 2) Các biện pháp mang tính kinh tế; 3) Các biện pháp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang tính kỹ thuật, bao gồm việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các biện pháp, giải pháp kỹ thuật và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường; 4) Các biện pháp mang tính tổ chức, bao gồm việc xây dựng hệ thống các đơn vị quản lý, thanh tra, kiểm tra và khắc phục các sự cố về ô nhiễm môi trường; 6) Các biện pháp mang tính giáo dục, bao gồm các chương trình giáo dục về những hậu quả của ô nhiễm môi trường và những quy định của pháp luật đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Mỗi biện pháp đều mang lại những hiệu quả nhất định, tuy nhiên, pháp luật hình sự chiếm vị trí quan trọng đặc biệt mà không ai có thể phủ nhận vai trò của nó. Với tư cách là một biện pháp bảo vệ tính ổn định, bền vững của các mối quan hệ xã hội, pháp luật hình sự đóng vai trò phòng ngừa và giáo dục trong công cuộc đấu tranh với các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Khi những biện pháp xử phạt vi phạm hành chính tỏ ra không thực sự đủ mạnh, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng thì các biện pháp hình sự chính là giải pháp cho vấn đề này. Bằng những chế tài nghiêm khắc nhất, biện pháp hình sự sẽ có sức ảnh hưởng lớn đối với những chủ thể có ý định thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Những chủ thể này sẽ phải tính toán tới những hậu quả bất lợi có thể bị áp dụng nếu thực hiện hành vi đó. Chính vì vậy, những biện pháp hình sự chính là cơ sở để tăng cường công tác phòng ngừa và đấu tranh các hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường và tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc tội phạm hóa những hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thứ ba, việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường còn xuất phát từ yêu cầu của chính sách bảo vệ môi trường mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra cũng như việc bảo đảm, thực hiện các cam kết quốc tế của đất nước. Bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ô nhiễm khi đất nước bước vào 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời kỳ hội nhập từ lâu đã là một trong những chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta.
Điều này được thể hiện thông qua một số văn bản như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.v… Đặc biệt, Hiến pháp của nước ta cũng dành những quy định quan trọng về vấn đề bảo vệ môi trường. Ví dụ, khoản 5, Điều 112 Hiến pháp năm 1992 quy định, Chính phủ có nhiệm vụ: “Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…; bảo vệ môi trường” [46, Điều 112]; Điều 44 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [47, Điều 44]. Với việc thừa nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi công dân, Nhà nước ta cũng khẳng định nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ môi trường khỏi các hệ lụy của những hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra đối với nhân dân, đồng thời, đây cũng chính là một trong những cơ sở cho các nhà lập pháp nước ta, tội phạm hóa các hành vi này trong pháp luật hình sự. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia một số lượng lớn các công ước, văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường.