Chương 1. Những vấn đề lý luận về tội gây ô nhiễm môi trường. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội gây ô nhiễm môi trường và thực tiễn áp dụng. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về tội gây ô nhiễm môi trường.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG 1. Cơ sở hình thành và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trƣờng trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1. Cơ sở hình thành việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam Tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS Việt Nam được hình thành dựa trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn như sau: Thứ nhất: Tính chất, mức độ của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng tinh vi và phức tạp.
Việc tập trung phát triển nền kinh tế thị trường đã mang lại nhiều thành quả đối với Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Nhưng mặt trái của sự phát triển đó là tình trạng ô nhiễm môi trường mà khi phát triển nền kinh tế đã không mấy chú trọng vấn đề bảo vệ môi trường. Các hành vi gây ô nhiễm môi trường hiện nay xảy ra ngày càng nhiều và mức độ cũng như tính chất nguy hiểm của hành vi ngày càng tăng cao. Những hành vi đó gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng với mức độ ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài tới toàn xã hội.
Việc quy định về xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đã trở nên không hiệu quả, do đó thiết yếu phải có biện pháp mạnh hơn để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay. Xuất phát từ tình hình thực tiễn Pháp luật các nước cũng như tại Việt Nam hiện nay đã quy định về tội phạm môi trường. Năm 1999, Pháp luật hình sự của Việt Nam đã có bước tiến mang tính đột phá khi xây dựng một chương riêng cho các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự - Chương XVII. Qua quá trình áp dụng pháp luật hình sự về các tội phạm về môi trường đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế gây khó khăn cho việc áp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng trên thực tiễn.
Những hạn chế đó cần phải khắc phục trước tình hình tội phạm ngày càng gia tăng như hiện nay. Hầu hết các vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hiện nay đều xuất phát từ hoạt động kinh doanh của các pháp nhân thương mại và các làng nghề trên phạm vi cả nước. Do vậy thiết yếu phải quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Chính vì vậy BLHS năm 2015 đã bổ sung cấu thành tội phạm và chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội.
Thứ hai: Pháp luật hình sự là công cụ hữu hiệu nhất mà Nhà nước ta cần sử dụng để đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng. Để đạt được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm thì quy định của pháp luật phải hết sức chặt chẽ và khả thi trên thực tiễn. Pháp luật hình sự được đặt ra khi các ngành luật khác không đủ sức răn đe và phòng chống tội phạm khi tính chất tội phạm ngày càng tinh vi và phức tạp đồng thời mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng cao. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam hành vi xả thải tại các khu công nghiệp và khu dân cư ra môi trường tự nhiên ngày càng trở nên trầm trọng dẫn tới sự hủy hoại đối với môi trường tự nhiên và dẫn tới những thảm họa đối với con người và sinh vật.
Do đó, thiết yếu phải thực hiện việc tội phạm hóa, hình sự hóa các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Bởi lẽ, chỉ có môi trường tự nhiên mới đem lại sự sống cho con người và sinh vật xung quanh chúng ta, nếu không có môi trường thì con người và sinh vật cũng sẽ không thể tồn tại. Tất cả những gì chúng ta đang thực hiện đều phục vụ cho sự sống. Do vậy, môi trường sẽ là vấn đề quan trọng nhất mà chúng ta cần quan tâm và bảo vệ ở hiện tại cũng như trong tương lai.
Bảo vệ môi trường sống đồng nghĩa với việc chúng ta đang bảo vệ cuộc sống và duy trì sự sinh tồn trên trái đất này. Chính sách hình sự ở Việt Nam hiện nay đối với các tội phạm về môi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường được định hướng như sau: + Thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước đó là hạn chế áp dụng hình phạt tù và thay vào đó là áp dụng các hình phạt ngoài tù. Như tăng mức phạt tiền, áp dụng các hình phạt khác như cải tạo không giam giữ, đình chỉ hoạt động…. + Hình sự hóa, tội phạm hóa các hành vi xâm hại tới môi trường bằng việc chôn, lấp, đổ, thải, xả thải các chất gây ô nhiễm môi trường với mức định lượng nhất định của các cá nhân và tổ chức.
+ Hình sự hóa, tội phạm hóa những hành vi phạm quy định về ứng phó và khắc phục sự cố môi trường; Cũng như các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông; + Hình sự hóa đối với những hành vi xâm hại tới môi trường của pháp nhân thương mại; + Điều chỉnh hình phạt theo hướng nâng mức phạt tiền và các hình phạt khác. Thứ ba: Nhằm thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia. Bảo vệ môi trường đã và đang là vấn đề hết sức cấp thiết đặt gia cho tất cả các quốc gia trên thế giới cũng như toàn bộ các cá thể sống trong môi trường đó. Có 3 vấn nạn đối với môi trường hiện nay đó là: Ô nhiễm biển, hiệu ứng nhà kính - biểu hiện rõ ràng nhất của sự nóng lên của Trái đất và hoang mạc hóa.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng dẫn đến sự suy giảm về đa dạng sinh hoạc, khiến các nguồn tài nguyên như đất, nước bị suy thoái và không thể sử dụng được. Tình trạng này đã và đang gây nguy hại đến cuộc sống của con người trên Trái đất này. Theo số liệu thống kê cho thấy: “Châu phi có thể chỉ nuôi được 25% dân số vào năm 2025 nếu tốc độ hoang 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạc hóa ở lục địa đen tiếp tục như hiện nay. Theo một báo cáo của Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD), tới năm 2050, ô nhiễm môi trường sẽ trở thành “kẻ sát nhân” khiến 3,6 triệu người chết mỗi năm” [6].
Trước tình hình ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng đe dọa trực tiếp đến môi trường sống của con người cũng như sinh vật trên toàn thế giới. Hội nghị quốc tế về môi trường như Hội nghị Stockholm năm 1972, Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường Singapore (yes) 2019, Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu vào tháng 9 năm nay sẽ được diễn ra với mục đích để cộng đồng quốc tế thực hiện hành động hiệu quả đối với biến đổi khí hậu…. Xu hướng quốc tế hóa về bảo vệ môi trường ngày càng mở rộng. Cùng với đó là việc ban hành các chế định pháp lí quốc tế liên quan đến môi trường thể hiện rõ tinh thần cũng như trách nhiệm của toàn cầu đối với vấn đề môi trường.
Những thập kỉ cuối XX được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường như Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới, 1972; Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA), 1985; Công ước bảo vệ tầng ôzôn, 1985; Công ước về chống sa mạc hóa của Liên Hợp Quốc (UNCCD), 1992; Công ước về đa dạng sinh học (CBD), 1992; Công ước quốc tế về Luật Biển (UNCLOS), 1982; Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001; Tuyên bố Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển, 1992… Nhận thức được tầm quan trọng và hệ lụy của ô nhiễm môi trường nên Việt Nam đã tham gia vào các Công ước quốc tế về môi trường nhằm chung tay với các nước trên thế giới bảo vệ môi trường sống của chúng ta. Nhằm thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của mình Việt Nam đã tham gia vào hàng loạt các văn kiện pháp lý quốc tế như: Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (Việt Nam tham gia ngày 10/8/2006); Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên của thế giới năm 1972 (Việt Nam tham gia ngày 19/10/1987); Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân năm 1985 (Việt Nam tham gia ngày 30/10/1987); Công ước về bảo vệ tầng ô zôn năm 1985 (Việt Nam tham gia ngày 26/4/1994); Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc năm 1992 (Việt Nam tham gia ngày 16/11/1994)…. Bên cạnh những hiệp ước đa phương, Việt Nam cũng đẩy mạnh việc tham gia ký kết các hiệp ước song phương nhằm đạt được những thành tựu trong công tác bảo vệ môi trường sống. Việc bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng, điều đó thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp lý của Nhà nước ta.
Cụ thể, được thể hiện trong văn bản pháp lý cao nhất đó là Hiến Pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản và là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất do Quốc hội thông qua. Điều 29 - Hiến pháp năm 1992 quy định: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường”.