Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng phát triển kinh tế nóng tại Việt Nam sau hơn 33 năm đổi mới đã tạo ra những áp lực nặng nề lên hệ sinh thái tự nhiên. Theo số liệu thống kê toàn quốc, cả nước hiện có 283 khu công nghiệp đang hoạt động với lưu lượng xả thải lên tới hơn 550.000 m3 nước thải mỗi ngày đêm, cùng 615 cụm công nghiệp nhưng chỉ có khoảng hơn 5% cơ sở hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung. Thêm vào đó, hơn 5.000 doanh nghiệp khai thác khoáng sản và 4.500 cơ sở y tế trên cả nước thải ra môi trường hơn 47 tấn chất thải nguy hại cùng 125.000 m3 nước thải y tế mỗi ngày. Sự gia tăng các hành vi xả thải tinh vi đã dẫn đến hàng loạt thảm họa môi trường nghiêm trọng, điển hình như sự cố xả thải của Formosa Vũng Áng gây thiệt hại kinh tế hàng trăm triệu USD hay các vụ ô nhiễm kéo dài trên lưu vực sông Bưởi và sông Thị Vải.

Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trịnh Thị Thủy, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Đào Trí Úc tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong quy định pháp lý và hiệu quả áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận nền tảng, phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015, đánh giá thực tiễn thi hành từ năm 2014 đến năm 2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình khởi tố, hạn chế bỏ lọt tội phạm pháp nhân và góp phần bảo vệ bền vững môi trường sống tại 63 tỉnh thành trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam và lý thuyết trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Đề tài tiếp cận 4 khái niệm cốt lõi theo hệ thống quy chuẩn pháp lý hiện hành: khái niệm môi trường theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, ô nhiễm môi trường theo Khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, tội gây ô nhiễm môi trường theo Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015 và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa 4 yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể là trật tự quản lý môi trường đối với đất, nước, không khí; mặt khách quan gồm các hành vi xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; chủ thể gồm cá nhân và pháp nhân thương mại; mặt chủ quan với lỗi cố ý hoặc các trường hợp vi phạm có ý thức. Luận văn đối chiếu trực tiếp với các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia như QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt, QCVN 09-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước ngầm, và danh mục hóa chất cần loại trừ theo Phụ lục A Công ước Stockholm gồm Aldrin, Dieldrin, Endrin.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản pháp luật quốc gia, báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ, cùng toàn bộ dữ liệu thống kê các vụ việc xử phạt hành chính và khởi tố hình sự trong giai đoạn 5 năm từ năm 2014 đến năm 2019. Phương pháp chọn mẫu điển cứu được áp dụng đối với các đại án môi trường nghiêm trọng tại các vùng kinh tế trọng điểm nhằm bảo đảm tính đại diện cao.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học. Nghiên cứu thực hiện so sánh đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 với hệ thống pháp luật hình sự quốc tế, gồm 17 điều khoản thuộc Chương 26 Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga, từ Điều 338 đến Điều 346 Bộ luật Hình sự Trung Quốc và các đạo luật chuyên ngành của Thái Lan như Luật Nguồn nước năm 1913, Luật Nhà máy năm 1992. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp đánh giá khách quan toàn diện cả khía cạnh lập pháp và thực tiễn áp dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tạo bước đột phá khi chuyển đổi từ cấu thành tội phạm vật chất sang cấu thành tội phạm hình thức với hệ thống định lượng số học cụ thể. Ngưỡng truy cứu trách nhiệm hình sự được xác lập rõ ràng: chôn lấp, đổ chất thải nguy hại đặc biệt từ 1.000 kg trở lên; chất thải nguy hại thông thường từ 3.000 kg trở lên; xả nước thải nguy hại từ 300 m3/ngày; phát tán khí thải nguy hại từ 100.000 m3/giờ; hoặc đổ chất thải rắn thông thường từ 100.000 kg trở lên.

Thứ hai, việc chính thức bổ sung chủ thể pháp nhân thương mại tại Điều 235 đã lấp đầy khoảng trống pháp lý tồn tại suốt 30 năm từ Bộ luật Hình sự năm 1985 đến năm 1999, cho phép áp dụng mức phạt tiền lên đến hàng chục tỷ đồng và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn đối với các doanh nghiệp cố tình vi phạm.

Thứ ba, dữ liệu thực chứng giai đoạn 2014 - 2019 cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng giữa xử lý hành chính và tư pháp hình sự. Trong khi lực lượng chức năng phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính hàng chục nghìn vụ việc ô nhiễm, số lượng vụ án bị khởi tố và xét xử theo Điều 235 chỉ chiếm tỷ lệ chưa đầy 1%, phản ánh tình trạng hành chính hóa các hành vi vi phạm có dấu hiệu hình sự.

Thứ tư, luật vẫn duy trì các dấu hiệu định tính như gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng ở các khung tăng nặng nhưng thiếu các tiêu chí lượng hóa tương ứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc tỷ lệ khởi tố hình sự ở mức thấp bắt nguồn từ sự thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng và chi phí giám định tư pháp môi trường quá cao. Sự chậm trễ trong việc ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khiến các cơ quan tố tụng lúng túng khi xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự.

So với các công trình nghiên cứu trước đây của Nguyễn Trí Chinh năm 2010 hay Phùng Trung Thắng năm 2014 dựa trên Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi năm 2009, luận văn đã làm rõ sự tiến bộ vượt bậc của kỹ thuật lập pháp mới, đồng thời chỉ ra nguy cơ bỏ lọt tội phạm nếu không có hướng dẫn định lượng chi tiết cho các hậu quả phi vật chất.

Thực trạng này có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng tổng hợp so sánh các chỉ số vi phạm hành chính với số liệu khởi tố giai đoạn 2014 - 2019, kết hợp biểu đồ cột thể hiện mức độ tương quan giữa quy mô phát sinh nước thải tại 283 khu công nghiệp và số lượng các bản án hình sự được tuyên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành bằng việc khẩn trương ban hành Thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Văn bản cần định lượng cụ thể các thuật ngữ gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ xử lý đúng tội danh đạt trên 85% trong giai đoạn tới.

Thứ hai, mở rộng phạm vi điều chỉnh và bổ sung yếu tố lỗi vô ý vào cấu thành tội phạm. Cơ quan lập pháp cần nghiên cứu bổ sung quy định xử lý hình sự đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường do bất cẩn, cẩu thả gây hậu quả nghiêm trọng, học tập kinh nghiệm từ Điều 250 Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga và Điều 239 Bộ luật Hình sự Thái Lan, với lộ trình hoàn thiện trong vòng 2 đến 3 năm.

Thứ ba, tăng cường năng lực giám định và phương tiện kỹ thuật cho lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường. Đảm bảo 100% cán bộ điều tra chuyên trách được bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ thuật đo kiểm nồng độ phát thải, nhận diện chất phóng xạ có hoạt độ trên 70 kBq/kg và hạt bụi kích thước dưới 75 micromet trước năm 2025.

Thứ tư, thiết lập cơ chế công khai hóa kết quả xử lý vi phạm. Bộ Tài nguyên và Môi trường cần phối hợp với các cơ quan truyền thông đăng tải công khai 100% các quyết định khởi tố và bản án kết án tội phạm môi trường trên cổng thông tin điện tử quốc gia định kỳ hàng tháng để tăng cường tính răn đe xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán. Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác để xác định 4 yếu tố cấu thành tội phạm, bóc tách ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 10 nhóm hành vi xả thải nguy hại.

Nhóm thứ hai là lực lượng Cảnh sát môi trường và Thanh tra chuyên ngành tài nguyên môi trường. Tài liệu đóng vai trò cẩm nang hướng dẫn thực hành thu thập chứng cứ hiện trường, xác định định lượng khối lượng chất thải từ 1.000 kg đến 100.000 kg phục vụ công tác lập hồ sơ khởi tố.

Nhóm thứ ba là đội ngũ pháp chế doanh nghiệp và ban quản lý tại hơn 283 khu công nghiệp trên toàn quốc. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm vững các khung chế tài hình sự đối với pháp nhân thương mại, từ đó chủ động rà soát quy trình xả thải, ngăn ngừa rủi ro pháp lý và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học chuyên ngành luật học. Luận văn là nguồn tư liệu học thuật phong phú, chứa đựng hệ thống so sánh lập pháp quốc tế chuyên sâu với hơn 50 danh mục tài liệu tham khảo giá trị.

Câu hỏi thường gặp

Pháp nhân thương mại vi phạm tội gây ô nhiễm môi trường theo Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ bị xử lý như thế nào? Theo Điều 235, pháp nhân thương mại vi phạm có thể bị phạt tiền từ 3 tỷ đến 10 tỷ đồng, áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đồng thời bị cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực nhất định.

Định lượng nước thải nguy hại tối thiểu để khởi tố hình sự là bao nhiêu? Theo điểm c Khoản 1 Điều 235, hành vi xả nước thải ra môi trường có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia từ 300 m3/ngày trở lên sẽ bị khởi tố hình sự ngay lập tức mà không cần điều kiện đã bị xử phạt hành chính trước đó.

Hành vi chôn lấp chất thải rắn thông thường bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Căn cứ điểm e Khoản 1 Điều 235, cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái phép chất thải rắn thông thường từ 100.000 kg trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tiền hoặc phạt tù theo luật định.

Điểm khác biệt cốt lõi giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và năm 2015 về tội danh này là gì? Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bãi bỏ cấu thành vật chất mơ hồ, chuyển sang cấu thành hình thức dựa trên các con số định lượng cụ thể từ 1.000 kg chất thải đến 100.000 m3 khí thải, đồng thời mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm hình sự sang pháp nhân thương mại.

Pháp luật quốc tế xử lý tội phạm môi trường do lỗi vô ý ra sao? Nhiều quốc gia như Liên Bang Nga tại Điều 250 và Thái Lan tại Điều 239 đều quy định xử phạt tù từ 1 năm đến 5 năm đối với hành vi vô ý làm ô nhiễm nguồn nước hoặc không khí gây nguy hại cho tính mạng con người, đây là kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống lý luận nền tảng và cơ sở thực tiễn của Tội gây ô nhiễm môi trường theo Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Phân tích chi tiết bước tiến lập pháp khi áp dụng cấu thành hình thức với các ngưỡng định lượng phát thải từ 1.000 kg đến 100.000 kg chất thải.
  • Khẳng định giá trị đột phá của việc lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
  • Đánh giá thực trạng áp dụng giai đoạn 2014 - 2019 và chỉ rõ nguyên nhân khiến tỷ lệ khởi tố hình sự đạt dưới 1% so với các vụ vi phạm hành chính.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược về hoàn thiện lập pháp, ban hành thông tư liên tịch và hiện đại hóa kỹ thuật giám định.

Công trình nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Thủy là đóng góp khoa học quan trọng, mang lại giá trị ứng dụng cao cho công tác lập pháp và thực thi tư pháp môi trường. Các cơ quan quản lý và nhà làm luật cần sớm cụ thể hóa các khuyến nghị trên trong giai đoạn 2020 - 2025. Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và cán bộ pháp lý có thể khai thác toàn văn luận văn tại Trung tâm Thông tin Thư viện - Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác chuyên môn và đào tạo.