Tổng quan nghiên cứu

Tính đến hết năm 2018, cả nước có 283 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 78.000 ha, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 40% đến 45% tổng vốn đăng ký toàn quốc. Tuy nhiên, sự bùng nổ của các khu công nghiệp đang đặt ra bài toán hóc búa về ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày đêm, các khu công nghiệp phát sinh hơn 550.000 m3 nước thải công nghiệp, trong khi lưu lượng xả thải toàn ngành chạm ngưỡng trên 2 triệu m3/ngày. Đáng báo động, có tới 70% lượng nước thải chưa được xử lý triệt để trước khi xả thẳng ra nguồn tiếp nhận, đồng thời 23% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xả thải vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép từ 5% đến 12%. Hệ lụy trực tiếp là hàng năm ghi nhận khoảng 9.000 ca tử vong và hơn 200.000 trường hợp phát hiện ung thư có liên quan đến việc sử dụng nguồn nước ô nhiễm từ các lưu vực sông tiếp nhận chất thải như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu và sông Đồng Nai.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ, phân tán trong khung khổ pháp lý kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm làm rõ hệ thống lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về thông tin môi trường, đánh giá tác động môi trường, quản lý chất thải và quan trắc môi trường. Phạm vi không gian nghiên cứu bao phủ các khu công nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trọng tâm là vùng Đông Nam Bộ với 96 khu công nghiệp và vùng Đồng bằng sông Hồng với 83 khu công nghiệp, trong khung thời gian từ khi hình thành khu chế xuất Tân Thuận năm 1991 đến hết năm 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình là cung cấp cơ sở khoa học thúc đẩy mục tiêu đạt 100% khu công nghiệp hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung và kéo giảm tỷ lệ vi phạm xả thải xuống dưới 5% trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba lý thuyết pháp lý và kinh tế môi trường nền tảng:

Thứ nhất, Thuyết phát triển bền vững đóng vai trò kim chỉ nam, khẳng định sự gắn kết hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo toàn hệ sinh thái. Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, hoạt động công nghiệp hóa tại 283 khu công nghiệp phải đảm bảo khả năng tự phục hồi của môi trường sống cho các thế hệ tương lai.

Thứ hai, Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền xác lập nghĩa vụ tài chính và bồi thường thiệt hại của các chủ nguồn thải. Doanh nghiệp bắt buộc phải nội hóa chi phí xử lý hơn 7 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp và 630.000 tấn chất thải nguy hại phát sinh hàng năm vào giá thành sản phẩm.

Thứ ba, Lý thuyết quản lý nhà nước bằng pháp luật thể chế hóa chu trình kiểm soát ô nhiễm khép kín gồm bốn mắt xích: phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm.

Khung khái niệm trung tâm bao gồm năm thuật ngữ cốt lõi:

  • Kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp: Quá trình tổng hợp các công cụ mệnh lệnh - kiểm soát và công cụ kinh tế để quản lý nguồn thải.
  • Đánh giá tác động môi trường: Công cụ dự báo tác động sinh thái theo quy định tại Điều 18 và Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Hệ thống xử lý nước thải tập trung: Hạ tầng kỹ thuật bắt buộc theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP.
  • Chất thải nguy hại: Chất thải chứa yếu tố độc hại vượt ngưỡng an toàn theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP.
  • Quan trắc môi trường: Hoạt động theo dõi liên tục chất lượng không khí và nước thải theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ Báo cáo số 206/BC-CP của Chính phủ, Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Luận văn triển khai phương pháp phân tích, tổng hợp văn bản pháp luật, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp điều tra xã hội học.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu toàn diện gồm 251 khu công nghiệp đang vận hành trong tổng số 283 khu công nghiệp được thành lập trên toàn quốc giai đoạn 2011 - 2018. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo 6 vùng kinh tế sinh thái được áp dụng triệt để, tập trung tại vùng Đông Nam Bộ (96 khu công nghiệp) và vùng Đồng bằng sông Hồng (83 khu công nghiệp), đối sánh với vùng Trung du miền núi phía Bắc (21 khu công nghiệp). Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp định tính và định lượng nhằm đo lường chính xác mối quan hệ nhân quả giữa những kẽ hở trong quy định lập báo cáo đánh giá tác động môi trường với tỷ lệ vi phạm xả thải thực tế của doanh nghiệp, đảm bảo tính khách quan và khả năng khái quát hóa cao cho toàn hệ thống chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu rút ra ba phát hiện lớn mang tính thực chứng cao về thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp tại Việt Nam:

Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ hạ tầng xử lý nước thải có bước tiến rõ rệt nhưng tồn tại nghịch lý trong vận hành thực tế. Đến cuối năm 2018, cả nước có 221 trên 251 khu công nghiệp đang hoạt động xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn kỹ thuật, chiếm tỷ lệ 88,05% (tăng 8,05% so với mức 80% năm 2017). Mặc dù các địa phương đầu tàu như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai đạt tỷ lệ 100%, song tại một số địa phương tỷ lệ này từng ở mức rất thấp, chỉ đạt 15% đến 20%. Đáng chú ý, nhiều khu công nghiệp dù đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải nhưng vẫn thường xuyên tắt hệ thống để giảm thiểu chi phí vận hành, xả lén ra sông ngòi.

Thứ hai, ô nhiễm chất thải rắn và khí thải công nghiệp chịu áp lực quá tải nghiêm trọng. Tổng khối lượng chất thải rắn công nghiệp phát sinh đạt khoảng 25 triệu tấn/năm, trong đó tro xỉ nhiệt điện than và xỉ thép chiếm tới 16,9 triệu tấn. Lượng tro xỉ tồn trữ tại các bãi thải lên tới 34,3 triệu tấn, chiếm dụng hơn 1.000 ha đất tự nhiên. Về khí thải và tiếng ồn, nồng độ bụi tổng số lơ lửng xung quanh các khu công nghiệp cũ đều vượt ngưỡng quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT nhiều lần và mức ồn vượt chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT.

Thứ ba, công tác đánh giá tác động môi trường bộc lộ nhiều lỗ hổng quản lý. Dù giai đoạn 2011 - 2015 ghi nhận hơn 9.000 dự án thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (trong đó Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt hơn 1.200 báo cáo, cấp tỉnh phê duyệt hơn 8.000 báo cáo), nhưng có tới 23% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vẫn vi phạm nồng độ xả thải từ 5% đến 12%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự xung đột lợi ích giữa mục tiêu tăng trưởng GDP ngắn hạn của các địa phương và yêu cầu bảo vệ môi trường dài hạn. Phân cấp thẩm quyền phê duyệt đánh giá tác động môi trường cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dẫn đến tình trạng vừa trải thảm đỏ thu hút đầu tư, vừa làm trọng tài thẩm định, làm suy giảm tính khách quan. Đồng thời, chế tài xử phạt vi phạm hành chính theo các nghị định hiện hành còn quá nhẹ so với chi phí đầu tư xử lý chất thải hàng triệu USD của doanh nghiệp.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện tương quan giữa tốc độ tăng số lượng khu công nghiệp (từ 1 khu năm 1991 lên 283 khu năm 2018) với đà tăng trưởng của lượng chất thải rắn phát sinh (dự báo đạt 13,5 triệu tấn đến năm 2020). Ngoài ra, một bảng đối chiếu tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp (74,2% ký hợp đồng dịch vụ ngoài, 18% bán phế liệu tái chế, 7,8% xử lý nội bộ) sẽ minh họa rõ nét bức tranh dòng chảy vật chất tại các khu công nghiệp hiện nay.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thiết lập hành lang pháp lý vững chắc cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp mang tính đột phá:

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật môi trường chuyên biệt. Quốc hội và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, ban hành bộ quy chuẩn xả thải riêng biệt cho từng loại hình công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao (như dệt nhuộm, luyện thép, hóa chất) và bổ sung quy chế quản lý khu công nghiệp sinh thái theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP. Mục tiêu đạt 100% văn bản hướng dẫn đồng bộ trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, áp dụng các công cụ kinh tế mạnh mẽ và thuế môi trường lũy tiến. Bộ Tài chính phối hợp với Tổng cục Môi trường nghiên cứu áp dụng phí bảo vệ môi trường đối với khí thải công nghiệp, đồng thời tính đúng, tính đủ giá dịch vụ xử lý nước thải đối với lưu lượng vượt mức 550.000 m3/ngày. Mục tiêu kéo giảm 30% tổng lượng phát thải độc hại ra môi trường trong lộ trình 2021 - 2025.

Thứ ba, số hóa quy trình giám sát và chuẩn hóa đánh giá tác động môi trường. Ủy ban nhân dân các tỉnh và Ban Quản lý các khu công nghiệp bắt buộc 100% doanh nghiệp nhóm đầu tư rủi ro cao lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải và khí thải tự động truyền dữ liệu liên tục 24/7 về cơ quan quản lý trước năm 2023. Song song đó, loại bỏ triệt để các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu ngay từ khâu thẩm định của hội đồng tối thiểu 07 thành viên theo Nghị định số 40/2019/NĐ-CP.

Thứ tư, siết chặt thanh tra, kiểm tra và nâng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính. Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng lực lượng Cảnh sát Môi trường cần tăng tần suất thanh tra đột xuất, nâng mức phạt tiền lên gấp 3 đến 5 lần đối với hành vi xả thải lén lút, kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc xử lý hình sự các cơ sở tái phạm nghiêm trọng từ năm 2021 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm độc giả chuyên biệt:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp). Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn từ 283 khu công nghiệp giúp điều chỉnh quy hoạch đất đai, xây dựng các nghị định hướng dẫn và cải cách quy trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Thứ hai, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất và các chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Nhóm này có thể ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và pháp lý trong việc quy hoạch hệ thống thoát nước mưa, nước thải riêng biệt, vận hành trạm xử lý nước thải tập trung đạt tỷ lệ 100% chuẩn xả thải.

Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư thứ cấp trong khu công nghiệp (đặc biệt là khối doanh nghiệp FDI). Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm vững các nghĩa vụ pháp lý về quản lý 25 triệu tấn chất thải rắn, kiểm soát nồng độ xả thải để không rơi vào nhóm 23% cơ sở vi phạm vượt chuẩn, tối ưu hóa chi phí tuân thủ môi trường.

Thứ tư, các chuyên gia, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Khoa học Môi trường. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận đa ngành, hệ thống bảng biểu thống kê giai đoạn 1991 - 2018 và khung phân tích chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

Quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường tại khu công nghiệp như thế nào?

Theo Điều 18 và Điều 19 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cùng Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và các dự án thứ cấp có nguy cơ gây ô nhiễm cao bắt buộc phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Giai đoạn 2011 - 2015 đã có hơn 9.000 dự án thực hiện thủ tục này trên cả nước. Chủ dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả đánh giá và phải lập lại báo cáo nếu không triển khai sau 24 tháng hoặc tăng công suất thiết kế.

Tỷ lệ khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn tại Việt Nam hiện nay ra sao?

Theo Báo cáo số 206/BC-CP của Chính phủ, tính đến cuối năm 2018, trên phạm vi cả nước đã có 221 trong tổng số 251 khu công nghiệp đang hoạt động hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 88,05% (tăng 8,05% so với năm 2017). Các trung tâm công nghiệp lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai đều đạt tỷ lệ 100%, tạo tiền đề kiểm soát hơn 550.000 m3 nước thải phát sinh mỗi ngày đêm.

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được áp dụng thông qua các công cụ pháp lý nào?

Nguyên tắc này được cụ thể hóa thông qua các khoản thuế bảo vệ môi trường, phí nước thải công nghiệp, tiền thuê hạ tầng xử lý chất thải tập trung và cơ chế ký quỹ cải tạo môi trường (riêng năm 2016 đã thu ký quỹ hơn 1.000 tỷ đồng). Doanh nghiệp xả thải vượt giới hạn quy định hoặc làm phát tán hơn 630.000 tấn chất thải nguy hại mỗi năm buộc phải bồi thường thiệt hại và chi trả toàn bộ kinh phí khắc phục sự cố sinh thái.

Những thách thức lớn nhất trong việc quản lý chất thải rắn công nghiệp tại các khu công nghiệp là gì?

Thách thức lớn nhất nằm ở khối lượng phát sinh khổng lồ lên tới 25 triệu tấn/năm, đặc biệt là lượng tro xỉ nhiệt điện than và xỉ thép tồn trữ 34,3 triệu tấn trên diện tích bãi chứa 1.000 ha. Dù tỷ lệ thu gom chất thải rắn công nghiệp thông thường đạt trên 90% (với 74,2% doanh nghiệp ký hợp đồng vận chuyển), nhưng hoạt động tái chế, phân định chất thải nguy hại và xử lý bùn thải lắng từ các trạm xử lý nước thải vẫn còn nhiều bất cập kỹ thuật.

Nghị định số 40/2019/NĐ-CP có những điểm mới nào trong thẩm định môi trường khu công nghiệp?

Nghị định số 40/2019/NĐ-CP đã tinh gọn thủ tục thẩm định thông qua hình thức lấy ý kiến bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày làm việc đối với các dự án thứ cấp nằm trong khu công nghiệp đã hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường. Đồng thời, nghị định quy định hội đồng thẩm định phải có tối thiểu 07 thành viên cho các dự án phức tạp, tăng cường sự tham gia phản biện của chuyên gia độc lập nhằm nâng cao chất lượng thẩm định môi trường.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 với mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
  • Phản ánh trung thực bức tranh thực trạng với 283 khu công nghiệp, phân tích rõ áp lực từ hơn 550.000 m3 nước thải/ngày đêm và 25 triệu tấn chất thải rắn phát sinh hàng năm.
  • Đánh giá khách quan bước tiến nâng tỷ lệ khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung lên 88,05% vào năm 2018, đồng thời chỉ rõ hạn chế khi 23% doanh nghiệp FDI xả thải vượt chuẩn kỹ thuật.
  • Hoàn thiện hệ thống giải pháp liên hoàn gồm 4 nhóm: hoàn thiện quy chuẩn xả thải ngành, áp dụng công cụ kinh tế - thuế lũy tiến, số hóa quan trắc tự động 24/7 và tăng cường chế tài thanh tra môi trường.
  • Xác định rõ lộ trình chuyển đổi mô hình khu công nghiệp truyền thống sang khu công nghiệp sinh thái thông minh trong giai đoạn 2020 - 2030, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Công trình là tài liệu khoa học hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, ban quản lý khu công nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Hải Quân tại Thư viện Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội để nắm bắt các giải pháp pháp lý chi tiết và ứng dụng hiệu quả vào công tác quản trị môi trường.