Chương 1: Những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường KCN Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp ở Việt Nam; Chương 3: Đề xuất, hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp tại Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG, PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng 1. Khái niệm ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường Theo khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Theo đó sự biến đổi các thành phần môi trường có thê bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm được phân loại thành các loại sau đây [34, tr. - Chất gây ô nhiễm tích lũy (chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất gây ô nhiễm tích lũy (tiếng ồn); - Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa a xít) và trên phạm vi toàn cầu (chất CFC); - Chấy gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn (hóa chất dùng cho nông nghiệp); - Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục (chất thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục (dầu tràn do sự cố tràn dầu).
Theo khoản 18 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014: Kiểm soát ô nhiễm môi trường là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chặn và xử lý ô nhiễm môi trường. Khái niệm trên thể hiện ở nhiều khía cạnh như mục đích kiểm soát, chủ thể kiểm soát, cách thức và công cụ kiểm soát, nội dung kiểm soát. Cụ thể [34, tr. 69]: - Mục đích chính của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường (ÔNMT) là phòng ngừa, khống chế không để ÔNMT xảy ra đó là quá trình con người ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động kinh tế - xã hội.
Còn nếu vì những lý do khác nhau mà ÔNMT vẫn xảy ra thì kiểm soát ÔNMT chính là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm. - Chủ thể của kiểm soát ÔNMT không chỉ là nhà nước mà còn bao gồm các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình,. là trách nhiệm của toàn xã hội. - Kiểm soát ÔNMT không chỉ được thực hiện bằng các biện pháp mệnh lệnh - kiểm soát, bằng các công cụ hành chính mà còn được thực hiện đồng bộ bằng các công cụ kinh tế, các biện pháp kỹ thuật, các giải pháp công nghệ, các yếu tố xã hội và thị trường.
- Nội dung chính của hoạt động kiểm soát ÔNMT gồm: Thu thập, quản lý và công bố các thông tin về môi trường, xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch kiểm soát ÔNMT; ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường; quản lý chất thải; xử lý, khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm. Qua đó, ta thấy kiểm soát ÔNMT được hiểu một cách tổng quát là một sự tổng hợp các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho sự ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có sự ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại trừ được nó. Đồng thời là sự tổng hợp các hoạt động, hành động biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa và khống chế không cho sự ô nhiễm xẩy ra hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường Pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lí nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của Việt Nam.
Hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước, lợi ích cộng đồng và xã hội. Pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội, là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để quản lí mọi mặt của đời sống xã hội, mọi hành vi, xử sự của con người đều phải tuân theo pháp luật, vấn đề kiểm soát môi trường cũng không phải ngoại lệ. Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường, hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và là cơ sở pháp lí cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường. Thứ nhất, Luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó sẽ được phổ biến một cách rộng rãi.
Bằng quyền lực của mình Nhà nước sẽ bảo đảm thực thi Luật hiệu quả. Báo cáo chuyên đề, những nội dung cơ bản, các điểm mới của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và tình hình xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, yêu cầu các cá nhân tổ chức thực hiện theo đúng pháp luật. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm cho pháp luật được thi hành, trừng phạt, thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Thứ hai, pháp luật là cơ sở pháp lí cho việc quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lí nhà nước đối với lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 quy định “Nhà nước thống nhất quản lý bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, lập quy hoạch bảo vệ môi trường, xây dựng tiềm lực cho hoạt động bảo vệ môi trường ở Trung ương và địa phương”. Pháp luật bảo vệ môi trường đã quy định sự thống nhất các cơ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan nhà nước, xây dựng hệ thống các cơ quan quản lí đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường trong phạm vi cả nước, từ trung ương tới địa phương. Tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động bảo vệ môi trường. Thứ ba, pháp luật là cơ sở pháp lí cho hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lí vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Các cơ quan Nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường, định kỳ báo cáo với Quốc hội về tình hình môi trường; xác định khu vực bị ô nhiễm môi trường và thông báo cho nhân dân biết; có kế hoạch phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường (Điều 10 Luật bảo vệ môi trường 2014). Nhà nước khuyến khích các hoạt động sử dụng và khai thác hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ sinh học tiên tiến, thân thiện với môi trường,… Việc thanh tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, nhà nước định kì hàng năm hoặc kiểm tra đột xuất dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Việc xử lý vi phạm được áp dụng cho mọi cá nhân tổ chức trong và ngoài nước có những hành vi vô ý hay cố tình vi phạm các quy định nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Thứ tư, pháp luật là cơ sở pháp lí cho công tác kiểm soát môi trường.
Theo những quy định của pháp luật, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường được các cá nhân, tổ chức thực hiện một cách khoa học, có hiệu quả, có tác động to lớn đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhờ có pháp luật, nhà nước mới kịp thời phát hiện, kiểm tra, ngăn chặn các hành vi sai lệch, gây tổn hại đến môi trường. Đồng thời biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân có đóng góp tích cực trong công tác bảo vệ môi trường. Dựa vào các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành các cơ quan nhà nước, mỗi tổ chức, cá nhân thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ năm, vai trò của pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường thể hiện ở việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường đó là những tiêu chuẩn pháp lý là những tiêu chuẩn mà cá nhân, tổ chức phải tuân thủ nghiêm ngặt khi khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường. Đây là cơ sở pháp lý cho việc xác định vi phạm pháp luật về môi trường. Có thể thấy, pháp luật có vai trò của quan trọng trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay. Đặc biệt trong hoàn cảnh này, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường ở nước ta tuy đã đạt được nhiều thành tựu song cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ môi trường - vấn đề sống còn của nhân loại.
Chính vì vậy, vai trò của pháp luật trong công tác bảo vệ môi trường ngày càng được đề cao. Tổng quan về Khu công nghiệp (KCN) 1. Khái niệm và đặc điểm KCN Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp thì KCN được hiểu là: Khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình).
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp.