Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG 1. Khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là một trong các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định tại Chương XVI Bộ luật hình sự. Đây là một trong những tội có nhiều ý kiến tranh luận trong quá trình hoàn thiện cũng như áp dụng Bộ luật hình sự vào thực tiễn. Vấn đề khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng cũng có một số quan điểm khác nhau.
Đinh Văn Quế: “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế” [19, tr.232]; Theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội: Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là việc người có trách nhiệm quản lý kinh tế có hành vi làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, tài chính, gây hậu quả làm thất thoát nghiêm trọng về tài sản hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đối với lĩnh vực hoạt động kinh tế [6, tr. Các định nghĩa nêu trên chưa khái quát đầy đủ các đặc điểm cơ bản của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiêm trọng. Theo tôi nên đưa ra định nghĩa đầy đủ về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng như sau: “Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có trách nhiệm quản lý kinh tế cố ý thực hiện, gây thiệt hại lớn về tài sản hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Từ khái niệm này, chúng ta có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng như sau: Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này được thể hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, bao gồm hai hành vi cụ thể là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và hành vi làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế. Ngoài ra, tính nguy hiểm cho xã hội còn được thể hiện qua việc gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Hậu quả do hành vi khách quan gây ra là những thiệt hại lớn về tài sản hoặc gây ra hậu quả nghiêm trọng khác. Khách thể của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong nền kinh tế, tài chính quốc gia.
Đối tượng tác động của tội phạm này là các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế. Các quy định về quản lý kinh tế phải là những quy định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, có phạm vi áp dụng trên toàn quốc. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, tính có lỗi. Tính có lỗi là một trong những đặc điểm cơ bản của tội phạm.
Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là người có lỗi. Qua khái niệm trên, chúng ta có thể thấy tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được thực hiện bằng lỗi cố ý, dưới hình thức cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Đây là một trong những dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.
Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự. Đây là đặc điểm về mặt hình thức pháp lý. Đặc điểm này được thể hiện ngay trong khái niệm của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng “. được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Đó là quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999. Thứ tư, đặc điểm đặc biệt về chủ thể của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Chủ thể của tội phạm này phải là người có trách nhiệm quản lý kinh tế. Đó là người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động quản lý kinh tế.
Người này có thể là người làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước,. hoặc là người làm việc trong các doanh nghiệp có một phần vốn góp của nhà nước, trong các hợp tác xã, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Lịch sử quy định về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Nền kinh tế xã hội của đất nước ta phát triển theo từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử. Hệ thống pháp luật nói chung, những quy phạm pháp luật về 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nói riêng cũng được hình thành và phát triển một cách phù hợp để kịp thời điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ kinh tế theo trật tự do Nhà nước đặt ra.
Để tạo cơ sở cho việc đánh giá đúng thực trạng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, cần tìm hiểu lịch sử quy định về tội phạm này qua từng thời kỳ, giai đoạn cụ thể sau đây: 1. Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Năm 1970, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, trong đó tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được quy định một cách cụ thể, rõ ràng và riêng biệt. Tội phạm này được quy định tại Điều 12 Pháp lệnh với tên tội danh là tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa. Điều 12 Pháp lệnh năm 1970 quy định: 1.
Kẻ nào lợi dung chức vụ, quyền hạn, cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Có tổ chức; b) Có móc ngoặc; c) Cố ý giúp cho những tổ chức hoặc cá nhân tiến hành kinh doanh, bóc lột, đầu cơ hoặc phạm những tội khác; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Gây thiệt hại lớn đến tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm. Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm [42, Điều 12]. Khách thể của tội phạm là nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính.
Nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, phương châm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong quản lý kinh tế. Còn chính sách là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” [33, tr. Như vậy, chính sách về kinh tế có thể hiểu là một đường lối, nhiệm vụ phát triển kinh tế nhất định thực hiện trong một giai đoạn, thời kỳ nhất định. Nhà nước đặt ra những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế nhằm đảm bảo mọi hoạt động kinh tế đi đúng đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa do Nhà nước hoạch định.
Nhà nước muốn phát triển nền kinh tế nhưng phải có định hướng, có kế hoạch để đạt được sự cân đối cho mọi hoạt động kinh tế nhằm đưa nền kinh tế đất nước phát triển. Chính vì lý do đó mà Nhà nước đã quy định về hành vi phạm tội trên. Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính. Đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính.
Hành vi làm trái ở đây được hiểu là việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện đúng những quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Hậu quả do hành vi khách quan gây ra là “thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, đối tượng cụ thể mà điều 12 Pháp lệnh năm 1970 bảo 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vệ chính là tài sản xã hội chủ nghĩa. Theo Điều 1 Pháp lệnh quy định: “Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (tức là sở hữu của toàn dân) và tài sản thuộc quyền sở hữu của hợp tác xã và các tổ chức hợp pháp khác của nhân dân (tức là sở hữu của tập thể)” [42, Điều 1].
Định nghĩa pháp lý của khái niệm tài sản xã hội chủ nghĩa nêu ra hai bộ phận đó là tài sản của Nhà nước và tài sản của tập thể.