chương 1, luận văn đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong BLHS và làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm tác giả đã phân tích ý nghĩa của việc quy định tội này trong pháp luật hình sự Việt Nam. Dựa trên quy định của Pháp luật hình sự Việt nam về loại tội này tác giả đã nêu lên quy định về tội này của một số nước trên thế giới, trên kết quả đó sẽ tạo dựng những cơ sở làm tiền đề cho việc xem xét, đánh giá công tác áp dụng pháp luật điều chỉnh tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Vinh, Nghệ An. 17 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI KHÁC 2.
Quá trình phát triển của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong luật hình sự Việt Nam 2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trước cách mạng tháng 8 năm 1945 Sự hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam gắn liền với nhu cầu quản lý xã hội bằng luật và sự quan tâm của chính quyền phong kiến đối với vấn đề này, cùng với đó song song tồn tại các bộ luật lớn được pháp điển hoá như Bộ Hình thư thời lý, Quốc triều hình luật thời Lê, Bộ Hoàng việt luật lệ nhà Nguyễn và các văn bản pháp luật hình sự như Chiếu, Lệnh.Cùng với sự đô hộ của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương gần một thế kỷ đã làm thay đổi sâu sắc pháp luật của Việt Nam về cả tính chất, nội dung và hình thức. Bằng sự ban hành ba Bộ luật hình sự ở ba miền Bắc - Trung - Nam: ở Nam Kỳ là Bộ hình luật tu chính năm 1902, Ở Bắc kỳ và Trung Kỳ ban hành bộ luật Hình sự Bắc kỳ năm 1922, Bộ luật hình sự Trung kỳ năm 1933, người pháp đã xác định lại giới hạn Luật hình sự trong phạm vi điều chỉnh quan hệ nhà nước bảo hộ với người mà Nhà nước coi là đã thực hiện hành vi phạm tội. Lúc đó án lệ chính thức xuất hiện và được coi là nguồn của Luật hình sự Việt Nam, theo đó chưa có quy định cụ thể nào về tội CYGTT, mà các hành vi chủ yếu liên quan đến loại tội này chưa được xác định rõ ràng mà chỉ dùng án lệ để áp dụng chung chung.
Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 1945 đến nay a. Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 có hiệu lực thi hành Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử Nước ta vừa trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp hao tốn cả sức người, sức của, chính quyền nhân dân vừa mới thành lập còn non trẻ nên Nhà nước ta đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn… trước tình hình đó nhân dân ta phải tập trung chủ yếu cho việc tái thiết lập đất nước và củng cố chính quyền cách mạng nên chưa kịp thời xây dựng Bộ luật hình sự đúng nghĩa của nó và cũng chưa có các văn bản pháp luật cụ thể để xử lý các tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ của con người. Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ sở pháp lý cho việc trấn áp tội phạm.
Các đạo luật hình sự là một trong những đạo luật đầu tiên cùng với các sắc lệnh như Sắc lệnh số 6-SL ngày 15/1/1946; Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946; Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946; Sắc lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949. trên các lĩnh vực như trừng trị phản động, âm mưu hành động phản quốc, quy định về trốn tránh nghĩa vụ, về phòng, chống các tội phạm cụ thể như hành vi trộm cắp, bắt cóc, tống tiền, ám sát… tạo cơ sở pháp lí cho việc trấn áp tội phạm, bảo vệ nhà nước non trẻ. Tuy nhiên, trong tình hình cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như các văn bản pháp luật Hình sự nói riêng mới ban hành không đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng. Vì thế ngày 10/10/1945, Nhà nước đã ban hành sắc lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong 19 đó có Luật hình An Nam, Hoàng Việt Hình luật và Hình luật pháp tư chính.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn được giải phóng, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 03/SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt với 7 loại tội phạm, trong đó có quy định về tội CYGTT. Tại điểm b điều 5 sắc luật số 03/SL/76 quy định: “Phạm tội cố ý gây thương tích thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm” [8]. Ngày 02/7/1976 Quốc hội chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được áp dụng chung cho cả nước. Do vậy, để giải quyết các vụ án CYGTT, chúng ta chủ yếu áp dụng điểm b Điều 5 Sắc luật số 03-SL/76 nói trên cho đến trước khi BLHS 1985 ra đời và đã sớm đi vào cuộc sống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành nhiệm vụ đổi mới toàn diện, đưa kinh tế và xã hội thoát khỏi khủng hoảng, với sự quan tâm của Nhà nước, nhằm phát huy hơn nữa vai trò pháp luật với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thì quá trình pháp điển hoá Luật Hình sự ở Việt Nam được đẩy mạnh và được đánh dấu bởi việc ban hành bộ luật hình sự năm 1985. Đây là bộ luật đầu tiên của Nhà nước ta và đây là thời điểm đánh dấu bước chuyển biến mang tính chất lịch sử, đánh dấu thời điểm quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện về các nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, BLHS 1985 một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là tội 20 xâm phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong BLHS 1985, tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác được quy định tại Chương II, Điều 109 bao gồm 4 khung hình phạt và trong mỗi khung thì có mức hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội, trong đó, mức cao nhất của hình phạt đối với tội này là 20 năm tù.
Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong Bộ luật Hình sự năm 1985 Nhằm tăng cường kỷ cương, pháp luật và thực hiện đầy đủ toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, tại kỳ họp thứ 9 ngày 27/6/1985, Quốc hội khoá VII đã thông qua toàn văn Bộ luật hình sự năm 1985 (có hiệu lực kể từ ngày 01/1/1986). Đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta. BLHS năm 1985 là sự kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm của nước ta từ năm 1945 đến thời điểm bộ luật ban hành. Bộ luật hình sự năm 1985 là bộ luật đầu tiên của Nhà nước chúng ta dựa trên sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt Nam đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp hình sự tiên tiến của các nước trên thế giới thể hiện được bản chất nhân văn, nhân đạo sâu sắc của xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở pháp lý có hiệu quả cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
BLHS Việt Nam 1985 bao gồm 02 phần: phần chung gồm 8 chương với 71 điều; phần các tội phạm gồm 12 chương với 209 điều. Trong đó, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác được quy định cụ thể tại Điều 109, Chương II về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân hẩm của con người như sau:. 21 1- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác; b) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; c) Có tính chất côn đồn hoặc tái phạm nguy hiểm; 3- Phạm tội gây cố tật nặng dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm.