Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ giáo dục học mang tên "Tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích Liên thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2014, thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử Giáo dục học (mã số: 62.02), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Tuyết Oanh và TS. Võ Nguyên Du.

1. Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam đặt ra yêu cầu chuyển dịch phương thức đào tạo từ truyền thụ tri thức một chiều sang phát triển năng lực người học, bám sát các định hướng trong Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 và Chỉ thị 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp giảng dạy trong các trường sư phạm nhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy năng lực tự học và tự nghiên cứu của sinh viên. Trong mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ, thời lượng tự học của người học tăng lên, đòi hỏi các hình thức tổ chức dạy học phải thích ứng tương ứng.

Môn Giáo dục học là học phần nghiệp vụ sư phạm cốt lõi trong chương trình đào tạo giáo viên. Tuy nhiên, thực tế đào tạo cho thấy sinh viên sư phạm thường gặp khó khăn trong việc xác định mục tiêu học tập, thiếu hứng thú, chưa nắm vững phương pháp nghiên cứu và chưa vận dụng hiệu quả tri thức giáo dục học vào thực tiễn rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Hình thức dạy học xêmina mang nhiều ưu thế về rèn luyện tư duy độc lập và nghiên cứu khoa học nhưng chưa được giảng viên đầu tư tổ chức thỏa đáng. Luận án xác định khoảng trống: việc tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở bậc đại học theo tiếp cận năng lực và xây dựng hệ thống biện pháp tổ chức đồng bộ phục vụ đào tạo giáo viên theo chuẩn đầu ra vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học, từ đó xác định các biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục học ở đại học, góp phần rèn luyện năng lực nghề cho sinh viên theo chuẩn đầu ra ngành sư phạm.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hình thức tổ chức dạy học ở đại học.
  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực.

4. Giả thuyết khoa học

Dạy học ở đại học theo tiếp cận năng lực là một xu thế tất yếu nhằm phát triển năng lực cho người học. Xêmina là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học cũng cần phải hướng vào phát triển năng lực cho người học. Hiện nay, xêmina theo hướng phát triển năng lực cho sinh viên chưa được giảng viên tổ chức có hiệu quả. Nếu xây dựng được các biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực như: xây dựng chủ đề xêmina theo tiếp cận năng lực, xác lập quy trình và hướng dẫn sinh viên kỹ thuật tổ chức xêmina, đồng thời thiết lập điều kiện hỗ trợ thì sẽ phát huy được vai trò tích cực của sinh viên, kích thích sinh viên hứng thú với môn học, say mê nghiên cứu khoa học và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục học, phát triển ở sinh viên những năng lực nghề đáp ứng chuẩn đầu ra ngành sư phạm.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực.
  2. Xác định cơ sở thực tiễn của việc tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực ở các trường đại học sư phạm và đại học có đào tạo sư phạm.
  3. Xác định các biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực ở các trường đại học sư phạm và đại học có đào tạo sư phạm.
  4. Tổ chức thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã xây dựng.

6. Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực tại các trường đại học sư phạm và trường đại học có đào tạo ngành sư phạm.
  • Phạm vi không gian khảo sát: Khảo sát và đánh giá thực trạng tại 3 cơ sở đào tạo gồm Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
  • Phạm vi thực nghiệm: Triển khai thực nghiệm sư phạm đối với sinh viên ngành sư phạm tại Trường Đại học Cần Thơ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai phân nhánh chính: nghiên cứu về hình thức tổ chức xêmina và nghiên cứu về tiếp cận năng lực trong đào tạo nghề nghiệp sư phạm.

1. Các nghiên cứu quốc tế

  • Về hệ thống lý thuyết của hình thức xêmina:

    • J.A. Comenius (1592–1670) đặt nền tảng cho việc tích cực hóa người học với nguyên lý tìm phương pháp để giáo viên dạy ít hơn và học sinh học nhiều hơn.
    • B.P. Esipov trong "Cơ sở của lý luận dạy học" khẳng định học tập qua xêmina giúp sinh viên rèn luyện tư duy độc lập, óc phê phán, khả năng phân tích sự kiện chính xác và kích thích trí tuệ vận động.
    • T.A. Ilina nhấn mạnh xêmina tập cho sinh viên thói quen phân tích tài liệu mạch lạc, có lý lẽ, đồng thời các cuộc tranh luận trực tiếp giúp phát triển tư duy và ngôn ngữ.
    • S.I. Arkhangelsky (1979) trong "Những bài giảng về Lí luận dạy học ở trường đại học" xem xêmina là hình thức thảo luận chuyên đề phục vụ đào tạo nghề, đòi hỏi người học nhập vai nhà khoa học chuẩn bị và bảo vệ quan điểm; tác giả chỉ ra lỗi phổ biến của giảng viên là làm thay vai trò của sinh viên.
    • Rebecca Taylor (2003) nghiên cứu xêmina dưới góc độ đánh giá sự tiến bộ của sinh viên, giúp sinh viên tổng hợp bằng chứng, chuẩn bị thuyết trình và xác định vai trò cố vấn, chẩn đoán năng lực của giảng viên.
    • Kate Morss và Rowena Murray (2005) định nghĩa xêmina là buổi trao đổi học thuật bàn tròn, chỉ dẫn người dạy các khâu xác định tài liệu đọc, viết báo cáo, thiết kế quy trình và khuyến khích sinh viên tự đánh giá.
  • Về ứng dụng xêmina và phát triển năng lực nghề nghiệp:

    • Phương pháp đàm thoại phát hiện chân lý ("thuật đỡ đẻ") của Socrate thời cổ đại Hy Lạp.
    • Cathy Bonus Lalli và Stephanie Feger (2005) nghiên cứu tính tương tác cao giữa người dạy - người học và người học - người học trong xêmina cùng kỹ thuật chia sẻ thông tin qua mạng internet.
    • R. Boyatzis (1982), D.A. Whetten và K.S. Cameron (1995) xác lập mô hình phát triển chương trình đào tạo theo năng lực qua 3 khía cạnh: xác định năng lực dựa trên chuẩn đầu ra, phát triển năng lực và đánh giá năng lực khách quan.
    • F.N. Gonobolin (1971) phân loại các nhóm năng lực của người giáo viên (truyền đạt, hiểu học sinh, thu hút, thuyết phục, tổ chức, ứng xử, dự đoán, sáng tạo, nắm vững tri thức).
    • A.V. Petrovsky phân chia năng lực sư phạm thành 6 nhóm: nhóm năng lực dạy học, thiết kế, tri giác, truyền đạt, giao tiếp và tổ chức.
    • N.V. Kuzmina trong "Rèn luyện các năng lực sư phạm" khảo sát 44 giảng viên để phân tích mối quan hệ giữa năng khiếu và năng lực sư phạm trong hoạt động thực tiễn.

2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về lý luận và ứng dụng hình thức xêmina:

    • Nguyễn Ngọc Bảo (1981) xây dựng quy trình tổ chức xêmina với cấu trúc 6 giai đoạn cho 2 tiết dạy học đại học.
    • Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (1996) xác định các chức năng và đặc trưng cơ bản của hình thức xêmina áp dụng trong giáo trình lý luận dạy học đại học.
    • Phan Thiều (1996) phân tích các điều kiện bảo đảm hiệu quả xêmina trong đào tạo giáo viên tại trường đại học sư phạm.
    • Nguyễn Văn Hộ (2002) phân tích ý nghĩa nhận thức, giáo dục và kiểm tra của xêmina, phân biệt hình thức này trong mối liên hệ với phương pháp thảo luận.
    • Phan Trọng Ngọ (2005) nhìn nhận xêmina là sự hội tụ các kỹ thuật dạy học dành cho người lớn, tạo điều kiện cho sinh viên làm việc trực tiếp với đối tượng học tập.
    • Các công trình ứng dụng chuyên biệt: Nguyễn Văn Hoan (2006) tại ĐHSP Đà Nẵng; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2006) về rèn luyện kỹ năng tự học môn GDH; Phan Thị Hồng Vinh (2007) về chủ đề "Giáo dục và thời đại"; Trần Thúy Ngà (2006) trong môn Đại số tuyến tính; Lê Thị Hồng Chi (2007) trong môn Thực hành giải toán Tiểu học; Đặng Thị Oanh và Dương Huy Cẩn (2007) với 4 hoạt động xêmina môn Hóa học; Đinh Thị Mơ (2010) với quy trình 3 giai đoạn tại Cao đẳng Thể dục Thể thao Thanh Hóa.
  • Về tiếp cận năng lực và năng lực sư phạm:

    • Phạm Thành Nghị (2008) tiếp cận năng lực trong phát triển con người, xem năng lực là tổ hợp khả năng thực hiện các chức năng sống và hoạt động.
    • Trần Bá Hoành (2006) định nghĩa năng lực nghề giáo viên gồm 5 nhóm (chẩn đoán, thiết kế, tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá, giải quyết vấn đề thực tiễn).
    • Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng; Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1995); Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn; Hà Nhật Thăng nghiên cứu cấu trúc nhân cách và hệ thống kỹ năng sư phạm.
    • Trần Thị Tuyết Oanh cùng cộng sự (2011) nghiên cứu xây dựng bài tập thực hành môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực; Cao Danh Chính (2012) nghiên cứu dạy học theo năng lực thực hiện ở trường đại học sư phạm kỹ thuật; Phan Thị Hồng Vinh cùng cộng sự (2013) nghiên cứu tổ chức tự học theo năng lực thực hiện; Lê Thùy Linh (2013) xây dựng quy trình 5 bước dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực thực hiện.

3. Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây hoặc dừng lại ở việc khái quát hóa lý luận chung về xêmina, hoặc ứng dụng xêmina vào các học phần chuyên ngành cụ thể mà chưa gắn kết chặt chẽ với khung năng lực nghề nghiệp sư phạm theo chuẩn đầu ra. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tích hợp trực tiếp lý luận tiếp cận năng lực vào toàn bộ quy trình thiết kế, triển khai và đánh giá hoạt động xêmina môn Giáo dục học ở bậc đại học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

  • Hình thức tổ chức dạy học ở đại học: Là hình thức vận động thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học trong không gian, địa điểm và điều kiện nhất định nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ dạy học đại học.
  • Xêmina trong dạy học ở đại học: Là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học, trong đó giảng viên tổ chức, điều khiển trực tiếp, hướng dẫn sinh viên chuẩn bị, nghiên cứu và tham gia trình bày, thảo luận, tranh luận giữa các nhóm về một chủ đề khoa học nhằm phát huy khả năng học tập có tính chất nghiên cứu của sinh viên.
  • Năng lực và Năng lực sư phạm: Năng lực được luận án nhìn nhận theo quan điểm tổng hòa tri thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh hành động thực tế (dẫn chiếu Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường, F.E. Weinert, John Erpenbeck). Năng lực sư phạm là khả năng thực hiện hiệu quả các hoạt động giáo dục và dạy học, biểu hiện cụ thể qua các kỹ năng nghề nghiệp theo chuẩn đầu ra.
  • Dạy học môn GDH theo tiếp cận năng lực: Xác định chuẩn đầu ra làm căn cứ thiết kế nội dung (chuyên môn, phương pháp - chiến lược, giao tiếp - xã hội, tự trải nghiệm đánh giá), phương pháp dạy học chú trọng rèn luyện thực hành, và phương thức đánh giá kết hợp:
    • Đánh giá quá trình (thường xuyên, nhóm, tự học, giữa kỳ): chiếm 50%.
    • Đánh giá kết quả đầu ra (thi kết thúc học phần, năng lực nghề): chiếm 50%.
  • Chức năng của xêmina: Gồm 3 chức năng nền tảng: Chức năng nhận thức (mở rộng, đào sâu tri thức, rèn luyện tư duy khoa học); Chức năng giáo dục (hình thành phẩm chất trung thực, có kế hoạch, tác phong khoa học); Chức năng kiểm tra và tự kiểm tra (cung cấp thông tin phản hồi cho giảng viên và giúp sinh viên tự đánh giá).
  • Phân loại xêmina trong luận án:
    • Căn cứ theo nội dung: Xêmina gắn với giáo trình và Xêmina theo chủ đề.
    • Căn cứ theo phạm vi: Xêmina liên tổ/liên nhóm, Xêmina theo lớp, và Xêmina liên lớp.

2. Phương pháp luận nghiên cứu

  • Tiếp cận hệ thống: Xem tổ chức xêmina là một hệ thống gồm các thành tố tương tác hữu cơ: mục tiêu, chủ đề, chủ thể (GV - SV), phương tiện, môi trường và kết quả.
  • Tiếp cận lịch sử: Kế thừa các giá trị lý luận về xêmina truyền thống và phát triển phù hợp với bối cảnh đào tạo theo tín chỉ và tiếp cận năng lực hiện đại.
  • Tiếp cận hoạt động: Hình thành và đo lường năng lực nghề nghiệp của sinh viên thông qua chính hoạt động học tập bằng xêmina.
  • Tiếp cận thực tiễn: Xuất phát từ thực trạng dạy học tại các trường đại học sư phạm để đề xuất các giải pháp khả thi, phục vụ chuẩn đầu ra.

3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Nhóm phương pháp Phương pháp cụ thể Mục đích và công cụ triển khai
Nghiên cứu lý luận Phân tích, tổng hợp lý thuyết Phân tích tài liệu, văn bản chính sách, giáo trình; hệ thống hóa cơ sở lý luận về xêmina và tiếp cận năng lực.
Nghiên cứu thực tiễn Điều tra bằng bảng hỏi Khảo sát nhận thức, thực trạng tổ chức xêmina, mức độ hình thành năng lực nghề của giảng viên và sinh viên tại 3 trường đại học.
Phỏng vấn sâu Trao đổi trực tiếp với giảng viên và sinh viên nhằm làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
Phương pháp chuyên gia Xin ý kiến các nhà khoa học giáo dục về tính hợp lý, khả thi của các biện pháp tổ chức xêmina.
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động Phân tích đề cương chuẩn bị, bài báo cáo nhóm, bài tập lớn và biên bản xêmina của sinh viên.
Quan sát sư phạm Theo dõi thái độ, mức độ tương tác, kỹ năng thuyết trình và tranh luận của sinh viên trong giờ học.
Thực nghiệm sư phạm Tổ chức dạy học thực nghiệm theo 2 giai đoạn tại Trường Đại học Cần Thơ có bố trí lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC).
Thống kê toán học Xử lý số liệu qua SPSS 16.0 Tính toán phân phối tần suất, điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), kiểm định sai khác điểm số trước và sau thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận về tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm và khung lý thuyết về xêmina theo định hướng phát triển năng lực:

  • Lịch sử vấn đề: Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về xêmina và dạy học theo tiếp cận năng lực, khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về môn Giáo dục học.
  • Bản chất và cấu trúc: Làm rõ khái niệm hình thức tổ chức dạy học, bản chất của xêmina là môi trường tập dượt nghiên cứu khoa học dưới sự định hướng của giảng viên. Phân tích 3 chức năng: nhận thức, giáo dục, kiểm tra/tự kiểm tra; và các cách phân loại xêmina theo nội dung và phạm vi.
  • Đặc trưng tổ chức xêmina môn GDH theo tiếp cận năng lực:
    • Về mục tiêu: Hướng tới chuẩn đầu ra năng lực nghề nghiệp (năng lực thu thập xử lý thông tin, làm việc nhóm, thuyết trình, giao tiếp, phản biện, tự học).
    • Về chủ đề: Đòi hỏi tính có vấn đề, tính ứng dụng thực tiễn nghề nghiệp sư phạm cao, gắn lý luận với các tình huống giáo dục ở trường phổ thông.
    • Về hoạt động của giảng viên: Chuyển từ người truyền thụ sang người thiết kế, huấn luyện, cố vấn khoa học, điều phối tranh luận và tổ chức đánh giá.
    • Về hoạt động của sinh viên: Chủ động xây dựng kế hoạch, tự nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị đề cương, làm việc nhóm, trình bày báo cáo, tranh luận bảo vệ quan điểm và tự đánh giá/đánh giá đồng đẳng.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn về tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực

Chương này trình bày kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên:

  • Thực trạng học tập môn GDH: Phần lớn sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của môn học đối với nghề nghiệp nhưng động cơ học tập chủ yếu vẫn nhằm tích lũy tín chỉ; thái độ học tập trên lớp còn thụ động, ít tham gia phát biểu hoặc tranh luận sâu sắc.
  • Thực trạng nhận thức về xêmina theo tiếp cận năng lực: Đa số giảng viên và sinh viên đều nhận thức được sự cần thiết và ý nghĩa của xêmina trong việc phát triển năng lực nghề nghiệp; tuy nhiên, việc hiểu đúng bản chất xêmina (khác với thảo luận nhóm thông thường) và cách thức vận hành xêmina theo chuẩn đầu ra còn lúng túng.
  • Thực trạng tổ chức xêmina: Giảng viên chủ yếu sử dụng hình thức thuyết trình kết hợp đàm thoại, tần suất tổ chức xêmina đúng nghĩa còn thấp. Chủ đề xêmina còn thiên về lý thuyết giáo trình, thiếu các tình huống thực tiễn sư phạm có vấn đề. Quy trình tổ chức chưa chặt chẽ, khâu hướng dẫn sinh viên chuẩn bị và khâu đánh giá năng lực chưa có tiêu chí rõ ràng.
  • Khó khăn ghi nhận: Giảng viên gặp khó khăn về quỹ thời gian trên lớp, sĩ số lớp đông, thiếu tài liệu hướng dẫn chuyên biệt; sinh viên gặp khó khăn về kỹ năng tìm kiếm tài liệu, kỹ năng thuyết trình, tranh luận và kỹ năng làm việc nhóm.

Chương 3: Biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực

Chương này đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc và 4 nhóm biện pháp đồng bộ:

  • 4 nguyên tắc xây dựng biện pháp:
    1. Đảm bảo mục tiêu đào tạo của trường sư phạm.
    2. Đảm bảo phù hợp với nhu cầu, hứng thú của sinh viên.
    3. Đảm bảo khả năng ứng dụng thực tiễn của tri thức giáo dục học.
    4. Đảm bảo đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra ngành sư phạm.
  • 4 biện pháp tổ chức xêmina:
    • Biện pháp 1: Xây dựng chủ đề xêmina trong dạy học môn GDH theo tiếp cận năng lực. Thiết kế các chủ đề vừa bao quát nội dung học phần vừa mang tính có vấn đề, gắn liền với các tình huống giáo dục thực tế tại trường phổ thông nhằm kích thích tư duy giải quyết vấn đề.
    • Biện pháp 2: Xác lập quy trình tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH theo tiếp cận năng lực. Quy trình gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn chuẩn bị (GV giao chủ đề, cung cấp tài liệu, hướng dẫn lập kế hoạch; SV tự nghiên cứu, làm việc nhóm, soạn đề cương); (2) Giai đoạn tiến hành xêmina trên lớp (báo cáo đề dẫn, thảo luận, tranh luận giữa các nhóm, GV làm trọng tài khoa học và kết luận); (3) Giai đoạn đánh giá kết quả (kết hợp GV đánh giá, đánh giá đồng đẳng giữa các nhóm và SV tự đánh giá theo rubric tiêu chí năng lực).
    • Biện pháp 3: Hướng dẫn sinh viên một số kĩ thuật tham gia xêmina. Tập huấn cho sinh viên kỹ thuật tra cứu và xử lý tài liệu khoa học, kỹ thuật thiết kế bài trình chiếu đa phương tiện, kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ thuật lập luận - phản biện và kỹ năng điều hành nhóm.
    • Biện pháp 4: Thiết lập điều kiện hỗ trợ để tổ chức xêmina. Biên soạn tài liệu hướng dẫn học tập theo môđun, chuẩn bị phòng học chuyên dụng có thiết bị đa phương tiện (máy chiếu, projector), bố trí không gian bàn tròn linh hoạt và cung cấp nguồn học liệu mở.

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Chương này phản ánh toàn bộ tiến trình và kết quả kiểm chứng thực nghiệm tại Trường Đại học Cần Thơ:

  • Tổ chức thực nghiệm: Tiến hành 2 đợt thực nghiệm sư phạm (TN1 và TN2) trên các cặp lớp thực nghiệm và đối chứng có trình độ xuất phát điểm tương đương về điểm học phần GDH trước thực nghiệm. Lớp TN được áp dụng hệ thống biện pháp tổ chức xêmina theo tiếp cận năng lực; lớp ĐC học theo phương pháp truyền thống.
  • Hệ thống tiêu chí và thang đo: Đo lường kết quả học tập môn học và mức độ hình thành các nhóm năng lực nghề nghiệp (năng lực thu thập thông tin, năng lực thuyết trình, năng lực tranh luận/phản biện, năng lực hợp tác nhóm, năng lực tự học).
  • Phân tích kết quả:
    • Về kết quả học tập: Phân phối tần suất điểm kiểm tra học phần GDH sau thực nghiệm của các lớp TN dịch chuyển rõ rệt về phía điểm khá, giỏi; điểm trung bình của lớp TN cao hơn có ý nghĩa thống kê so với lớp ĐC, độ lệch chuẩn ở lớp TN cho thấy tính đồng đều cao.
    • Về biểu hiện năng lực: Sinh viên lớp TN có sự tiến bộ vượt bậc về kỹ năng trình bày khoa học, tự tin trong tranh biện và chủ động nghiên cứu tài liệu so với trước thực nghiệm và so với lớp ĐC.
    • Về thái độ và hứng thú: Tỷ lệ sinh viên lớp TN thể hiện mức độ hứng thú cao với môn học và tích cực tham gia các hoạt động nhóm tăng lên đáng kể.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về hình thức tổ chức xêmina trong dạy học đại học dưới góc độ tiếp cận năng lực.
  • Xác định rõ đặc trưng cấu trúc, chức năng (nhận thức, giáo dục, kiểm tra) và các yêu cầu sư phạm của việc tổ chức xêmina trong môn Giáo dục học hướng đến chuẩn đầu ra.
  • Xây dựng hệ thống 4 nguyên tắc sư phạm định hướng cho việc thiết kế và vận hành xêmina phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện về nhận thức, hoạt động giảng dạy môn GDH, mức độ sử dụng xêmina và những khó khăn của giảng viên, sinh viên tại 3 trường đại học lớn (Cần Thơ, ĐHSP Huế, ĐHSP Thái Nguyên).
  • Xây dựng quy trình tổ chức xêmina 3 giai đoạn chi tiết kèm theo hệ thống chủ đề mẫu môn Giáo dục học có tính ứng dụng cao và bộ tiêu chí đánh giá năng lực cụ thể.
  • Đề xuất các kỹ thuật tham gia xêmina thực tế cho sinh viên và điều kiện cơ sở vật chất hỗ trợ, đã được chứng minh tính hiệu quả và khả thi qua 2 đợt thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Cần Thơ.

3. Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện chương trình đào tạo giáo viên theo chuẩn đầu ra; có chính sách đầu tư cơ sở vật chất, phòng học chức năng cho các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu dạy học tích cực.
  • Đối với các trường đại học và khoa sư phạm: Điều chỉnh kế hoạch đào tạo, giảm tải sĩ số lớp học phần Giáo dục học để tạo điều kiện tổ chức xêmina; trang bị hệ thống học liệu và phương tiện kỹ thuật dạy học đồng bộ.
  • Đối với tổ bộ môn và giảng viên: Tích cực biên soạn giáo trình, tài liệu hướng dẫn tự học theo môđun; thiết kế ngân hàng chủ đề xêmina mang tính có vấn đề; chuyển dịch phương thức đánh giá kết quả sang đánh giá quá trình và đánh giá năng lực thực hiện.
  • Đối với sinh viên sư phạm: Chủ động rèn luyện kỹ năng tự học, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, tích cực tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật xêmina để hoàn thiện năng lực nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Địa bàn khảo sát thực trạng mới được tiến hành tại 3 cơ sở đào tạo đại học (Đại học Cần Thơ, ĐHSP Huế, ĐHSP Thái Nguyên), chưa bao quát toàn bộ hệ thống các trường đại học sư phạm trên cả nước.
    • Quá trình thực nghiệm sư phạm chỉ mới triển khai thực tế trên đối tượng sinh viên sư phạm tại Trường Đại học Cần Thơ trong khuôn khổ học phần Giáo dục học.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thử nghiệm các biện pháp tổ chức xêmina sang các học phần nghiệp vụ sư phạm khác như Lý luận dạy học bộ môn, Quản lý giáo dục, Tâm lý học sư phạm.
    • Ứng dụng công nghệ thông tin và môi trường học tập trực tuyến (E-learning/Blended learning) để phát triển các mô hình xêmina trực tuyến hoặc xêmina kết hợp trong đào tạo giáo viên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên giảng dạy môn Giáo dục học và các môn nghiệp vụ sư phạm: Tham khảo trực tiếp quy trình tổ chức xêmina 3 giai đoạn, cách thức biên soạn chủ đề xêmina có vấn đề và các kỹ thuật hướng dẫn sinh viên làm việc nhóm, thuyết trình, tranh biện học thuật.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và phát triển chương trình: Sử dụng khung lý thuyết và bộ tiêu chí đánh giá năng lực theo chuẩn đầu ra để xây dựng đề cương chi tiết học phần, thiết kế tỷ lệ đánh giá quá trình (50%) và đánh giá kết quả (50%) trong đào tạo theo tín chỉ.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và Lịch sử Giáo dục học: Tham khảo khung phương pháp luận tiếp cận hệ thống, cấu trúc bảng hỏi khảo sát thực trạng và mô hình thực nghiệm sư phạm 2 đợt xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS.
  • Sinh viên ngành sư phạm: Sử dụng các chỉ dẫn về kỹ thuật chuẩn bị đề cương, phương pháp tìm kiếm tài liệu và kỹ năng tham gia tranh luận xêmina để nâng cao năng lực tự học và nghiệp vụ sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa xêmina trong dạy học ở đại học như thế nào?

Luận án xác định: Xêmina là một trong những hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học, trong đó, giảng viên tổ chức, điều khiển trực tiếp, hướng dẫn sinh viên chuẩn bị, nghiên cứu và tham gia trình bày, thảo luận, tranh luận giữa các nhóm về một chủ đề khoa học nhằm phát huy khả năng học tập có tính chất nghiên cứu của sinh viên.

2. Luận án đề xuất những biện pháp cụ thể nào để tổ chức xêmina môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực?

Tác giả đề xuất hệ thống 4 biện pháp đồng bộ:

  1. Xây dựng chủ đề xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực.
  2. Xác lập quy trình tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực.
  3. Hướng dẫn sinh viên một số kĩ thuật tham gia xêmina.
  4. Thiết lập điều kiện hỗ trợ để tổ chức xêmina.

3. Quy trình tổ chức xêmina theo tiếp cận năng lực gồm những giai đoạn nào?

Quy trình được xác lập qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Chuẩn bị): Giảng viên giao chủ đề, cung cấp tài liệu, phổ biến tiêu chí đánh giá; sinh viên lập kế hoạch, tự nghiên cứu, làm việc nhóm và hoàn thành đề cương báo cáo.
  • Giai đoạn 2 (Tiến hành xêmina toàn lớp): Nhóm sinh viên trình bày báo cáo; các nhóm khác thảo luận, phản biện, tranh luận; giảng viên điều phối và làm trọng tài khoa học kết luận vấn đề.
  • Giai đoạn 3 (Đánh giá kết quả): Giảng viên đánh giá, các nhóm đánh giá đồng đẳng và sinh viên tự đánh giá theo chuẩn năng lực đã công bố.

4. Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm của luận án được thực hiện tại những đơn vị nào?

  • Khảo sát thực trạng: Được tiến hành tại 3 trường đại học gồm Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.
  • Thực nghiệm sư phạm: Được triển khai 2 đợt (TN1 và TN2) trên sinh viên ngành sư phạm tại Trường Đại học Cần Thơ.

5. Cơ cấu đánh giá kết quả học phần Giáo dục học theo tiếp cận năng lực được phân bổ như thế nào?

Theo khung lý luận của luận án, đánh giá kết quả học phần theo tiếp cận năng lực được chia đều theo tỷ lệ:

  • Đánh giá thường xuyên/đánh giá quá trình (hoạt động nhóm, xêmina, bài tập lớn, hoạt động tự học, thi giữa kỳ): chiếm 50%.
  • Đánh giá kết quả đầu ra (chú trọng năng lực nghề và thi kết thúc học phần): chiếm 50%.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Liên đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở lí luận và thực tiễn về việc tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở bậc đại học theo tiếp cận năng lực. Công trình đã xây dựng được hệ thống 4 nguyên tắc và 4 biện pháp tổ chức xêmina hoàn chỉnh, gắn kết chặt chẽ quy trình dạy học với chuẩn đầu ra nghề nghiệp của sinh viên sư phạm. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường Đại học Cần Thơ khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp trong việc nâng cao chất lượng học tập bộ môn và phát triển các năng lực nghề nghiệp cốt lõi cho đội ngũ giáo viên tương lai.