Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG NỘI VỤ 1. Vị trí, chức năng, quá trình hình thành và phát triển của Phòng Nội vụ 1. Vị trí, chức năng của Phòng Nội vụ 1. Vị trí của Phòng Nội vụ Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, chính quyền địa phương tại mỗi đơn vị hành chính lãnh thổ bao gồm: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Việc phân cấp giữa các cơ quan chính quyền địa phương phải đảm bảo sự phù hợp với nhiệm vụ, khả năng của từng cấp, bảo đảm sự bình đẳng của các cấp địa phương và đảm bảo sự liên kết giữa các cấp chính quyền địa phương. Vì vậy, có thể nói rằng: Ủy ban nhân dân cấp huyện là trung gian quan trọng cho sự liên kết đó, có những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật trong việc thực hiện quản lý nhà nước ở địa phương và tùy từng điều kiện lịch sử nhất định, tên gọi của Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng có sự khác nhau (Ủy ban nhân dân, Ủy ban hành chính cấp huyện). Theo Điều 114 của Hiến pháp năm 2013 thì Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.
Theo Điều 8 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Trong cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có các cơ quan chuyên môn. Các cơ quan chuyên môn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “hai 7 chiều trực thuộc” và có tính chất là cơ quan có thẩm quyền chuyên môn thuộc cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Theo chiều ngang, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân, góp phần bảo đảm sự quản lý thống nhất đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở; theo chiều dọc, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn cấp trên.
Về tính chất quan hệ, sự phụ thuộc theo chiều ngang được pháp luật quy định tương đối đầy đủ, cho thấy sự phụ thuộc của các cơ quan chuyên môn vào Ủy ban nhân dân cùng cấp là cơ bản, có trội hơn so với quan hệ theo chiều dọc. Bởi vì trên thực tế mọi hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đều được tiến hành có sự điều hành, chỉ đạo, quản lý của Ủy ban nhân dân nhằm giúp Ủy ban nhân dân thực hiện tốt chức năng quản lý trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương. Bên cạnh đó, những quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở trung ương, cũng như cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới với cơ quan chuyên môn cấp trên, phù hợp nguyên tắc quản lý theo ngành, chức năng kết hợp với quản lý theo lãnh thổ. Với vị trí là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nên hoạt động của cơ quan chuyên môn nói chung, Phòng Nội vụ nói riêng mang tính chất “tham mưu”, “giúp” và “tư vấn” cho Ủy ban nhân dân cấp huyện trong hoạt động quản lý hành chính góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành, lĩnh vực công tác ở địa phương.
Phòng Nội vụ chấp hành sự lãnh đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chấp hành sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Nội vụ. Chức năng của Phòng Nội vụ Phòng Nội vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; cụ thể là giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm, biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức phường - xã, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở phường - xã, thị trấn; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua - khen thưởng; công tác thanh niên. Quá trình hình thành và phát triển của Phòng Nội vụ Từ khi Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính năm 1962 ra đời đến khi thống nhất đất nước, nước ta đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976 và Hiến pháp năm 1980 ra đời kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1946 và năm 1959 là bản Hiến pháp có ý nghĩa quan trọng, cơ sở pháp lý để thể chế đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới, là nền tảng xây dựng đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992; Nghị định số 15- CP ngày 02 tháng 3 năm 1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ.
Ngày 09 tháng 11 năm 1994, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, tại Điều 4 quy định “Hệ thống tổ chức ở các cơ quan Trung ương và địa phương: Vụ hoặc Phòng Tổ chức - Cán bộ ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ban Tổ chức 9 chính quyền ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phòng hoặc bộ phận tổ chức ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.”; theo quy định, ở cấp huyện có Phòng Tổ chức. Trên cơ sở đó, ngày 14 tháng 6 năm 1995, Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ đã ban hành Thông tư số 121/TCCP-TC về việc hướng dẫn về hệ thống làm công tác tổ chức nhà nước ở các cơ quan trung ương và địa phương, trong đó các cơ quan trung ương có Vụ Tổ chức - Cán bộ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ở cấp tỉnh có Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở cấp huyện có Phòng hoặc bộ phận tổ chức huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Do việc tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chưa thống nhất trong cả nước, trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, ngày 29 tháng 9 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 172/2004/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, theo quy định thì Phòng Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Sau đó, từ tháng 02 năm 2008 đến nay, tổ chức Phòng Nội vụ được thống nhất tên gọi theo quy định của Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thông tư số 04/2008/TT-BNV ngày 04 tháng 6 năm 2008 và Thông tư số 15/2014/TT- BNV ngày 31 tháng 10 năm 2014 của Bộ Nội vụ.
Tổ chức và hoạt động của Phòng Nội vụ 1. Tổ chức của Phòng Nội vụ Theo nguồn Thư viện học liệu mở Việt Nam: Có nhiều định nghĩa khác nhau về “Tổ chức”: “Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”.
Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. Nói cách khác, khi người ta cùng nhau hợp tác và 10 thỏa thuận một cách chính thức để phối hợp những nỗ lực của họ nhằm hoàn thành những mục tiêu chung thì một tổ chức sẽ được hình thành. Theo quy định của pháp luật, Phòng Nội vụ là một bộ máy thuộc cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (cấp huyện) giúp cơ quan này thực hiện chức năng quản lý nhà nước về một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền; tổ chức của Phòng Nội vụ bao gồm những công chức có chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực công tác nội vụ được phân công nhiệm vụ cụ thể theo vị trí việc làm; được đảm bảo về cơ sở vật chất; kinh phí, tài chính để thực hiện nhiệm vụ.