Mở đầu, 3 chương, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Cơ sở lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của Chi cục Hải quan cửa khẩu đường bộ. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Chi cục Hải quan cửa khẩu đường bộ hiện nay. Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện về tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi cục Hải quan cửa khẩu đường bộ.
4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU ĐƢỜNG BỘ 1. Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Chi cục Hải quan cửa khẩu đƣờng bộ 1. Khái niệm Chi cục Hải quan cửa khẩu Từ điển tiếng Việt giải thích “Hải quan” là: “Cơ quan phụ trách việc kiểm soát và đánh thuế các hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu”.[1] Theo tìm hiểu, thì nguồn gốc ban đầu Ngành có tên là “Thuế quan” nhưng về sau đổi thành “Hải quan”. Về lý do đổi tên “Thuế quan” thành “Hải quan” thì theo ông Nguyễn Chanh[2], người đã tham gia đặt tên cho lực lượng này vào thập niên 50 của thế kỷ trước thì lúc đầu lãnh đạo Bộ Ngoại thương cũng định giữ tên “Thuế quan”, nhưng những ý kiến phản biện lại cho rằng trong thời buổi này làm gì có thuế xuất nhập khẩu mà gọi là “Thuế quan”.
Sau đó lại có những ý kiến đề nghị lấy tên là “Douane”, nhưng những mặc cảm của dân ta với “lính douane” thời Pháp thuộc đã không thể đi đến nhất trí. Lực lượng này không thu thuế thì làm sao lại đặt tên là “Thuế quan”, nhưng lại được giao những nhiệm vụ khác như kiểm tra đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và công cụ vận tải xuất nhập cảnh, chống buôn lậu qua biên giới, chống buôn lậu thuốc phiện, bảo vệ chính sách độc quyền ngoại thương của Nhà nước. Do đó, phải tìm một cái tên khác không liên quan tới thuế và được biết bên Trung Quốc, người ta gọi lực lượng này là “Hải quan”. Vì vậy, từ “Hải quan” không dính dáng gì tới thuế, thoả mãn yêu cầu ban đầu do tập thể lãnh đạo Bộ Ngoại thương đề ra mà nghe lại có vẻ huyền bí.
Cuối cùng, ban lãnh đạo Bộ Ngoại thương lúc đó đã quyết định mượn từ tiếng Trung Quốc đặt tên cho Ngành này là “Hải quan”. Sở dĩ Trung Quốc dùng từ “Hải quan” tức là “cửa biển” để đặt tên cho lực lượng này vì từ xưa, việc giao lưu của Trung Quốc với nước ngoài chủ yếu là qua các cảng biển. Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, trong trào lưu đổi mới và cùng với nó là xoá bỏ quan liêu bao cấp, Nhà nước ta đã ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giao cho cơ quan Hải quan thực hiện nhiệm vụ thu. Kết quả thật không ngờ, thuế xuất nhập khẩu đã đóng góp một phần quan trọng vào ngân sách của Nhà nước.
Chính vì nguồn thu của cơ quan Hải quan lớn nên người ta đã định đổi lại tên “Hải quan” thành “Thuế quan” như trước đây. Nhưng sau khi cân nhắc kỹ thấy ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao (trước đây), cơ quan Hải 1 Nguyễn Lân, 1998, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, tr. 793, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 2 Nguyễn Chanh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại thương (2005), ý kiến phát biểu trong Hội thảo lịch sử Hải quan, Hà Nội.
5 quan vẫn thu thuế, và trong tương lai, hàng hóa xuất nhập khẩu có thuế suất dần tiến tới bằng không. Đến lúc đó, lực lượng này sẽ không còn nguồn thu và lại phải tiếp tục đổi tên. Với những lý lẽ trên nên ý định thay tên “Hải quan” không được chấp nhận. Từ “Hải quan” được hiểu một cách đầy đủ như sau: Hải quan là cơ quan thay mặt Nhà nước để tiến hành các biện pháp kiểm tra nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh tại các cửa khẩu; thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế gián thu và các khoản thu khác có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; phòng, chống ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thực hiện thống kê nhà nước về hải quan.
“Cửa khẩu” là từ Hán Việt có nghĩa là cửa ải. Ví dụ như: Ải Nam Quan, miền biên ải. Cửa khẩu là nơi xa xôi trên biên giới có đường đi sang nước tiếp giáp. Từ điển Bách khoa có định nghĩa từ cửa khẩu như sau: Cửa khẩu là cửa ngõ của một quốc gia, nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa và những đồ vật khác được phép xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Có cửa khẩu dành cho đường bộ, có cửa khẩu dành cho đường biển và cửa khẩu dành cho đường không. Việc đặt cửa khẩu ở đâu và với số lượng bao nhiêu là do Nhà nước quy định căn cứ vào các tuyến giao thông giữa nước mình với nước ngoài cũng như căn cứ vào nhu cầu giao lưu quốc tế và những điều kiện khác của nước mình. Tại cửa khẩu, Nhà nước đặt Trạm kiểm soát Biên phòng và Hải quan để thực hiện kiểm soát về an ninh, xuất nhập cảnh, y tế, thuế quan…Ở Việt Nam cửa khẩu dành cho đường bộ được đặt trên toàn bộ biên giới quốc gia và thường đặt tại những điểm có đường bộ hay đường sắt qua lại.[3] Theo Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14/3/2005 quy định: Cửa khẩu biên giới đất liền bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu phụ, được mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc gia.[4] Tuy nhiên, trong luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến loại cửa khẩu được thiết lập trên biên giới đường bộ giữa Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào và Việt Nam-Campuchia. 3 Trung tâm biên soạn từ điển, Từ điển Bách khoa Việt Nam,Tập 1 tr.
4 Điều 2 Nghị định số 32/2005/NĐ-CP ngày 14/3/2005 của Chính phủ. 6 Như vậy, Chi cục HQCK đường bộ là đơn vị trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố; có tên gắn liền với tên cửa khẩu; có trụ sở đóng trên địa bàn cửa khẩu đó; trực tiếp thực hiện các quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh; thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; phòng, chống buôn lậu, ma túy; chống gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong phạm vi địa bàn cửa khẩu. Theo thống kê, hiện nay, toàn ngành Hải quan, có 238 Chi cục Hải quan và đơn vị tương đương[5], trong đó có 45 Chi cục HQCK đường bộ (phụ lục số 01). * Bản chất, đặc trưng, mục đích hoạt động của Chi cục Hải quan cửa khẩu đường bộ - Bản chất của hoạt động của Chi cục HQCK đường bộ là hoạt động quản lý hành chính nhà nước chứa đựng yếu tố vũ trang và thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại và thương mại quốc tế qua lại biên giới đất liền bằng giao thông đường bộ.
Vì vậy, trước đây cơ quan Hải quan đã từng được xác định: “…là công cụ chuyên chính nữa vũ trang của Đảng và Nhà nước…”[6], là công cụ đối ngoại của Nhà nước (phụ lục số 02). - Đặc trưng hoạt động của Chi cục HQCK đường bộ là thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát quản lý, thu thuế xuất nhập khẩu và hoạt động điều tra chống buôn lậu thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan đối với các đối tượng quản lý của cơ quan Hải quan qua các cửa khẩu đường bộ, theo quy định của pháp luật hải quan. - Mục đích hoạt động của Chi cục HQCK đường bộ là bảo vệ chủ quyền an ninh kinh tế của đất nước và thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại và thương mại quốc tế, du lịch và thu hút đầu tư nước ngoài. Tại các cửa khẩu đường bộ, lực lượng hải quan là một trong các lực lượng chức năng tại cửa khẩu bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, an ninh chính trị khu vực cửa khẩu và khu vực biên giới đất liền, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại qua biên giới đất liền, nâng cao đời sống cư dân biên giới, thúc đẩy phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.
Tóm lại, Chi cục HQCK đường bộ là đơn vị thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố, là công cụ đối ngoại của Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan tại cửa khẩu biên giới đường bộ, nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền an ninh kinh tế của đất nước. Sự cần thiết của việc thành lập Chi cục Hải quan cửa khẩu đường bộ 5 Nguồn từ Tổng cục Hải quan, kèm theo Công văn số 8427/TCHQ-TCCB ngày 25/6/2010 của Tổng cục Hải quan. 6 Điều 1 Nghị định số 139-HĐBT ngày 20/10/1984 của Hội đồng Bộ trưởng. 7 Trước đây, các quốc gia trên thế giới độc lập, tự chủ, không có mối quan hệ về kinh tế, quân sự thì không xuất hiện các công cụ đối ngoại.
Chỉ sau khi có sự thâm nhập về kinh tế, quân sự lẫn nhau, thì các Nhà nước tổ chức lực lượng hải quan, biên phòng để bảo vệ nền kinh tế và chủ quyền an ninh quốc gia, là những công cụ đối ngoại của Nhà nước. Để bảo vệ các cột mốc biên giới và đường nối liền các cột mốc biên giới với nhau, các quốc gia có lãnh thổ trên lục địa phải xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới mà chúng ta gọi là Biên phòng. Các quốc gia quần đảo như: Nhật Bản, Australia, New Zealand, Philippin, Đài Loan…không có Biên phòng, vì họ đâu có cột mốc biên giới mà bảo vệ. Việc bảo vệ bờ biển tại các quốc gia này được giao cho Hải quan và Quân đội phối hợp thực hiện.
Nói như vậy để thấy lực lượng biên phòng thì có quốc gia thành lập, có quốc gia không thành lập, còn lực lượng hải quan thì tất cả các quốc gia độc lập, có chủ quyền đều thành lập.