CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HẢI QUAN HÀNG HÓA XUẤT, NHẬP KHẨU 1. Khái niệm, đặc điểm của giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm về hàng hóa xuất, nhập khẩu a.
Khái niệm hàng hóa xuất, nhập khẩu Hàng hóa được định nghĩa là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị. Trong đó, sản phẩm được định nghĩa là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng. Định nghĩa này là tương đồng với quan điểm của kinh tế chính trị Marx-Lenin về hàng hóa.[5] Hàng hóa xuất, nhập khẩu là sản phẩm của quá trình sản xuất (có thể là nguyên liệu, vật tư, thành phẩm, bán thành phẩm) được các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp mua bán, trao đổi qua biên giới của quốc gia. Đặc điểm hàng hóa xuất, nhập khẩu Hàng hóa xuất nhập khẩu cần có đầy đủ chứng từ chứng minh xuất xứ do quốc gia nơi sản xuất cấp phép: Hàng hóa chỉ được coi là hàng hóa xuất nhập khảu khi nó được sản xuất ở một quốc gia nhưng được tiêu thụ ở một quốc gia khác và phải đảm bảo yêu cầu về chuẩn mực, giấy tờ của quốc gia đăng ký kinh doanh Đơn vị kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu cần chuẩn bị giấy tờ xác minh cho hàng hóa xuất nhập khẩu Chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu đa dạng phong phú, thị trường rộng lớn, khó kiểm soát và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp… của các quốc gia khác nhau.
6 Thanh toán bằng đồng tiền ngoại tệ, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, phải tuân theo những tập quán buôn bán quốc tế. Khái niệm giám sát hải quan (GSHQ) đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu Theo từ điển tiếng Việt, thuật ngữ giám sát được hiểu như sau: - Giám sát là việc theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định hay không. Như vậy, giám sát là thanh tra, kiểm tra và theo dõi từ xa với nhiều nội dung thực hiện như phân tích định tính, định lượng, tổng hợp, xử lý số liệu Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan. Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.[2] Theo tác giả, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.
Giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu được coi là hoàn chỉnh khi cả hải quan, doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng (doanh nghiệp KDC), tổ chức, cá nhân có hoạt động XK, NK, quá cảnh, xuất cảnh, nhập cảnh đều đạt được mục đích với sự tuân thủ pháp luật và chi phí thấp nhất. Chủ thể của Giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu: 7 - Đối với GSHQ truyền thống: Theo quy định tại Điều 27 Luật Hải quan 2001 sửa đổi bổ sung 2005, điểm b khoản 1 và khoản 2 Thông tư 128/2013/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan, GSHQ; thuế XK, thuế NK và quản lý thuế đối với hàng hóa XK, NK thì có thể xác định chủ thể thực hiện quyền GSHQ là: công chức hải quan, Chi cục trưởng Chi cục hải quan, Tổng cục trưởng TCHQ. - Đối với GSHQ điện tử: Theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC quy định thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa XK, NK thương mại thì chủ thể thực hiện quyền GSHQ điện tử cũng giống như trên. Đối tượng của Giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu: - Đối với giám sát hải quan truyền thống: Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 154/2005 /NĐ-CP thì không phải tất cả mọi hàng hóa XNK thương mại đều là đối tượng của hoạt động GSHQ.
Xuất phát từ nội dung, mục đích của hoạt động này, pháp luật chỉ đặt ra trách nhiệm GSHQ đối với hàng hóa XNK thương mại trong những trường hợp nhất định, bao gồm: + Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XK nhưng chưa thực XK.Thông thường, hàng hóa sau khi thực hiện hết thủ tục hải quan thì sẽ được XK hoặc NK. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó hàng hóa có thể chưa được XK ngay sau khi làm thủ tục hải quan. Đối với hàng hóa trong trường hợp này, cơ quan hải quan có thẩm quyền phải thực hiện hoạt động GSHQ. + Hàng hóa đã làm xong thủ tục hải quan XNK nhưng chưa được thông quan.
+ Hàng hóa XK, NK chưa làm thủ tục hải quan được lưu trong kho, bãi, thuộc phạm vi, địa bàn hoạt động của cơ quan hải quan. + Hàng hóa quá cảnh. 8 + Hàng hóa chuyển cửa khẩu. + Hàng hóa chuyển cảng.
Đối với bất kỳ loại hàng hóa XNK thương mại nào nếu rơi vào nếu rơi vào một trong số năm trường hợp kể trên thì sẽ phải trải qua thủ tục GSHQ. - Đối với giám sát hải quan điện tử: Căn cứ tại khoản 1 Điều 31 Thông tư 22/2014/TT-BTC thì đối tượng chịu sự GSHQ điện tử cũng giống như GSHQ truyền thống. Đặc điểm của giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu GSHQ hàng hóa XK, NK có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, GSHQ hàng hóa XK, NK luôn gắn liền với nhiệm vụ của hải quan, hỗ trợ tốt cho hoạt động hải quan và là một khâu không thể tách rời trong quy trình nghiệp vụ hải quan. Thứ hai, đặc điểm về thời gian GSHQ hàng hóa XK, NK: - Hàng hóa NK chịu sự GSHQ từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.
- Hàng hóa XK miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự GSHQ từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa XK chịu sự GSHQ từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan.[2] - Hàng hóa quá cảnh chịu sự GSHQ từ khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên đến khi ra khỏi cửa khẩu xuất cuối cùng. Thứ ba, đặc điểm về phương thức GSHQ hàng hóa XK, NK: Phương thức giám sát: - Niêm phong hải quan; - Giám sát trực tiếp của công chức hải quan (chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết); 9 - Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật: Giám sát bằng camera; Giám sát thông qua kiểm tra thông tin trên hệ thống CNTT; Giám sát bằng phương tiện kỹ thuật khác. Căn cứ kết quả phân tích, đánh giá rủi ro và các thông tin khác có liên quan đến đối tượng giám sát hải quan, cơ quan hải quan quyết định phương thức giám sát phù hợp.
Mục tiêu, nguyên tắc của giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu 1. Mục tiêu của giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu GSHQ hàng hóa XK, NK tập trung thực hiện những mục tiêu cơ bản sau: Thứ nhất, đảm bảo sự nguyên trạng của hàng hóa XK, NK đang thuộc đối tượng GSHQ.GSHQ hàng hóa XK, NK theo dõi được lượng hàng hóa XK, NK đưa vào, đưa ra khu vực GSHQ, theo dõi được lượng hàng hóa tồn, thời gian tồn trong khu vực cửa khẩu. Từ đó, giúp cơ quan hải quan quản lý được sự đảm bảo nguyên trạng của hàng hóa XK, NK. Thứ hai, ngăn ngừa, phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ quan hải quan áp dụng các phương thức GSHQ, sử dụng các công cụ GSHQ để phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật hải quan đối với hàng hóa XNK đang chịu sự GSHQ; không để xảy ra tình trạng lợi dụng các chính sách ưu tiên, miễn kiểm tra để buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Thứ ba, tạo tiền đề cho việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, tính thuế và các vấn đề khác đúng quy định. Thông thường hàng hóa khi NK từ nước ngoài vào lãnh thổ của Việt Nam phải làm thủ tục hải quan ngay tại cửa khẩu biên giới, tuy nhiên để tạo thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp XNK đồng thời tránh trường hợp ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu biên giới, Nhà nước đã có chủ trương cho phép thành lập các địa điểm thông quan ngoài cửa khẩu ở một số địa phương. Việc 10 thông quan với loại hình hàng NK tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng bên cạnh đó cũng nhiều doanh nghiệp lợi dụng loại hình này để gian lận thương mại, buôn lậu, trốn thuế.
Để có thể quản lý tốt với loại hàng này đòi hỏi phải có một quy trình thủ tục hải quan hoàn chỉnh đặc biệt là công tác GSHQ (nhiệm vụ chủ yếu của Chi cục Hải quan cửa khẩu) vừa tạo thông thoáng cho hoạt động XNK, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý chặt chẽ. Thứ tư, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo chức năng quản lý của nhà nước về Hải quan. Tham gia hội nhập, giao lưu thương mại quốc tế khiến hoạt động XNK nước ta không ngừng gia tăng. Các loại hình XNK cũng trở nên đa dạng về cả chủng loại và mặt hàng XNK.Trước tình hình đó, cơ quan Hải quan các cấp phải có sự nỗ lực trong hoạt động của mình nhằm tạo thuận lợi cho phát triển giao lưu thương mại quốc tế.
Chủ trương “Thông quan nhanh chóng, quản lý chặt chẽ với hàng hóa XNK” được cơ quan hải quan ưu tiên chú trọng hàng đầu. Nguyên tắc của giám sát hải quan hàng hóa xuất, nhập khẩu GSHQ hàng hóa XK, NK tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, GSHQ hàng hóa XK, NK phải được thực hiện trong suốt thời gian hàng hóa, phương tiện vận tải đặt tại địa bàn hoạt động của hải quan cho đến khi hàng hoá được thông quan.