CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về hứng thú và hứng thú học tập “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân với đối tượng vừa có ý nghĩa với cuộc sống vừa có khả năng đem lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” [15, tr187]. Vai trò của hứng thú với hoạt động của con người: hứng thú được xem là một cơ chế bên trong, sự biểu hiện của động cơ thúc đẩy quá trình nhận thức của con người. Hứng thú là động lực cơ bản để hình thành và phát triển năng lực ở con người.
Hứng thú là yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển năng lực cá nhân. Hứng thú và năng lực có quan hệ biện chứng với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia và ngược lại. Hứng thú bà năng lực là một cặp không thể tách rời khỏi nhau Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, sự cuốn hút về mặt tình cảm ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống cá nhân. Các loại hứng thú học tập: Thứ nhất là: Hứng thú gián tiếp : những yếu tố bên ngoài đối tượng học tập như khi được khen, giáo viên khuyến khích, ba mẹ thúc đẩy… Thứ hai là: Hứng thú trực tiếp : học sinh được hấp dẫn bởi chính đối tượng học tập như thích học toán, hứng thú với bài giảng, … 1.
Hứng thú học tập của học sinh Tiểu học 1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học a,Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học còn ít đi sâu vào cụ thể, ít mang tính chủ định cơ bản , còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm. Càng lên lớp lớn hơn học sinh có năng lực chi giác tốt hơn.Giáo viên có cách tổ chức đặc biệt các hoạt động để học sinh phát hiện được những dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng. Vì vậy khi cho học sinh học toán bằng những hình ảnh tranh vẽ, những đồ vật hay nhừng từ ngữ mang tính hình tượng cao để trẻ có thể nhớ được những dấu hiệu đặc biệt của học sinh.
b,Chú ý : Chú ý còn yếu , học sinh thường chú ý không chủ đinh nhờ những thứ mang tính chất mới mẻ rực rỡ. Giáo viên cần tạo nhu cầu hứng thú, lôi quấn sự chú ý của học sinh bằng cách như: Dùng tranh ảnh, hình vẽ, hình thật, vật thật; Thường xuyên khen thưởng học sinh; Có thời gian học khoa học: cứ từ 30 đến 35 phút rồi nghỉ giải lao hay tổ chức các trò chơi thư giãn; Hướng dẫn học sinh bằng một cách khoa học rõ ràng. c,Trí nhớ : + Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan hình tượng mạnh hơn nhờ từ ngữ logic. Các em lớp nhỏ thường có khuynh hướng ghi nhớ máy móc do chưa có từ ngữ phong phú.
+ Giáo viên cần có mỗi cách hướng dẫn học sinh ghi nhớ theo từng đối tượng, có nhiều cách ghi nhớ khác nhau: ghi nhớ bằng hình ảnh , tư duy logic, theo điểm tựa, nội dung ghi nhớ phù hợp với các em trong các lớp học. d,Tưởng tượng : + Học sinh tiểu học có tưởng tượng rất phong phú. + Toán học ở các lớp 1,2,3 khi càng có đồ vật thật thì trí tưởng tượng phong phú và không lệch lạc với các phép tính bằng cách dùng sự vật. + Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận.
e,Tư duy: + Tư duy của trẻ thường dựa vào trực quan của đối tượng. + Khả năng tư duy logic của trẻ tăng dần theo sự tăng của lứa tuổi. + Giáo viên cần đặt ra cho học sinh những câu hỏi mang tính chất mới lạ, mang tính chất tư duy logic, tư duy hình tượng đối với các học sinh. Quá trình phát triển cơ thể xảy ra tương đối đồng đều và cân đối.
Chiều cao mỗi năm tăng 4-5 cm, khối lượng tăng 2-3 kg. cơ tay, bắp chân phát triển mạnh , xong khả năng thực hiện các động tác tinh vi ( viết chữ) lại khó khăn. Lên đến 10 tuổi khả nằng làm việc của các cơ phát triển , động tác mạnh, khá tinh vi, các cơ sâu phần lưng còn yếu. Bản thân cột sống rất mềm mại, không ngồi đúng tư thế sẽ bị vẹo cột sống.Sự tiêu hao năng lượng giảm, hô hấp giảm.
Nhìn chung sức khỏe các em còn hạn chế, từ đó tránh cho trẻ học tập quá sức, có quá trình học tập căng thẳng. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học Tiểu học là cấp học đầu tiên, nền tảng trong hệ thống giáo dục phổ thông. Bắt đầu vào lớp 1 đã làm cho toàn bộ nhân cách học sinh tiểu học, địa vị của trẻ trong xã hội, vị trí trong tập thể và gia đình thay đổi căn bản (thay đổi vị trí trẻ con của mình trở thành một học sinh, cũng bận việc như người lớn, có đồng phục, có cặp sách và nơi học riêng, v. Hoạt động học tập trở thành hoạt động chủ yếu, thành trách nhiệm xã hội quan trọng nhất đối với các em.
Muốn tổ chức tốt hoạt động học tập của học sinh cần hiểu đặc điểm nhận thức đang trong giai đoạn phát triển của các em. Hoạt động học tập của học sinh tiểu học trước hết là thúc đẩy sự phát triển các quá trình nhận thức trực tiếp thế giới xung quanh – quá trình cảm giác và tri giác. Tri giác của học sinh tiểu học rất sắc bén và tươi sáng, song lại có tính ít phân hoá. Ví dụ, học sinh thường nhầm lẫn giữa chữ và từ giống nhau về hình dạng chữ viết hay cách phát âm.
Sự tri giác gắn chặt với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ, mang đậm tính cảm xúc. Vì thế, cái trực quan, cái sinh động, cái rực rỡ được tri giác tốt hơn những hình ảnh tượng trưng. Song cũng cần lưu ý màu sắc, hình dáng của các hình ảnh, bức tranh trong tài liệu học tập. Nếu các bức tranh có màu sắc rực rỡ, sặc sỡ quá trong sách tập đọc sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành kĩ năng đọc.
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, sự chú ý có chủ định còn yếu và thường gắn với một động cơ gần (được cô giáo khen, được điểm 10,.), sự chú ý dễ bị phân tán và khả năng điều chỉnh chú ý còn bị hạn chế, trong khi đó sự chú ý không có chủ định rất phát triển. Vì vậy, việc sử dụng hợp lí (tức là không tràn lan) các tài liệu trực quan như các tranh ảnh minh hoạ, hình vẽ, hình mẫu, mô hình có tác dụng kích thích, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Tuy nhiên, theo thời gian khả năng kiểm soát và điều chỉnh chú ý có chủ định của học sinh tiểu học ngày càng phát triển đạt mức độ cao dần về cuối cấp học. Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ – lôgic, ghi nhớ máy móc phát triển hơn ghi nhớ có chủ định nên học sinh tiểu học thường học thuộc lòng tài liệu học tập hơn là tổ chức, sắp xếp chúng.
Do đó, giáo viên cần hình thành cho học sinh kĩ năng nhận diện và phân biệt nhiệm vụ ghi nhớ (định nghĩa, công thức cần nhớ nguyên văn, còn những chi tiết thì chỉ cần nhớ bản chất khi cần có thể kết lại bằng lời lẽ của mình), hình thành tâm thế nhất định cho việc ghi nhớ, dạy cho học sinh phương pháp và phương tiện ghi nhớ (sử dụng dàn ý như là điểm tựa để ghi nhớ, tách ra những điểm tựa độc đáo để ghi nhớ, v. Hoạt động phân tích, tổng hợp ở học sinh tiểu học còn rất sơ đẳng, đang trong giai đoạn phân tích trực quan – hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng. Chính vì đặc điểm này trong tư duy mà học sinh tiểu học không phân biệt và tách các dấu hiệu không bản chất ngay sau khi quan sát. Đặc điểm hứng thú của học sinh tiểu học Hứng thú của học sinh tiểu học là những nét riêng độc đáo, đặc trưng cho loại hứng thú này khiến ta phân biệt hứng thú học môn toán của các em với hứng thú học môn khác và hứng thú học toán của bậc học khác.
Đặc điểm hứng thú của HS tiểu học có thể chia thành: - Hứng thú toán học thường hơn các môn học khác như văn, tự nhiên và xã hôị, đạo đức, - Hứng thú giao tiếp : do có tác động từ bên ngoài : gia đình, giáo viên khuyến khích tinh thần học tập của trẻ, sự vật gây hứng thú. - Hứng thú trực tiếp : do học sinh chủ động ,yêu thích môn học, tìm tòi nghiên cứu. - Được biểu hiên ở nhận thức, thái độ, xúc cảm, hành vi trong quá trình học tập toán học. Sự hình thành và phát triển của hứng thú học tập Giai đoạn 1: Thái độ nhận thức có xúc cảm đới với hiện tượng, được xuất hiện dưới dạng rung động định kỳ.
Giai đoạn 2: Những rung động định kỳ được lặp đi lặp lại nhiều lần và được khái quát trở thành thái độ nhận thức có xúc cảm tích cực với đối tượng. Giai đoạn 3: Nếu thái độ tích cực đó được duy trì củng cố, khả năng tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì hứng thú có thể trở thành xu hướng cá nhân. Những điều kiện hình thành và phát triển hứng thú học tập: Bao gồm: Hình thức hấp dẫn của việc truyền đạt tri thức trong quá trình học tập, nhận thức được tầm quan trọng của môn học; cách tổ chức việc học tập và sinh hoạt cho người học; đề ra cho người học những nhiệm vụ học tập; nhân cách của người giáo viên; nội dung tài liệu học tập. Các yếu tố tác động lên hứng thú học tập của học sinh tiểu học gồm: Những yếu tố chủ quan (bên trong): Đó là những yếu tố thuộc về chủ thể nhận thức như: Trình độ phát triển trí tuệ của học sinh; thái độ đúng đắn đối với việc học tập, đối với bộ môn Toán; các yếu tố chủ quan khác như: nhu cầu, tính ham hiểu biết.
Trình độ của học sinh cả về kiến thức lẫn kỹ năng có đáp ứng đủ việc lĩnh hội tri thức mới hay không đều ảnh hưởng đến hứng thú học tập của các em.