phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc trình bày thành ba chƣơng: 3 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống kế toán trách nhiệm Chƣơng 2: Thực trạng việc đánh giá thành quả hoạt động và trách nhiệm quản lý tại công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển Viễn Thông Miền Tây Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức kế toán trách nhiệm tại công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển Viễn Thông Miền Tây 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1.1 Tổng quát về hệ thống kế toán trách nhiệm Kế toán quản trị (KTQT) trong doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng là cung cấp thông tin quản trị giúp các nhà quản trị ra các quyết định quản trị cho doanh nghiệp mình. Thông tin KTQT rất đa dạng và có nhiều công dụng giúp nhà quản trị có thể thực hiện chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát, điều chỉnh và ra quyết định thích hợp. Để thực hiện chức năng cung cấp thông tin quản trị, KTQT vận dụng một trong những công cụ quan trọng là hệ thống kế toán trách nhiệm.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con ngƣời) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức. Nhƣ vậy, thực chất của kế toán trách nhiệm trong một tổ chức chính là thiết lập những quyền hạn, trách nhiệm của mỗi bộ phận, thành viên và một hệ thống chỉ tiêu, công cụ, báo cáo thành quả của mỗi bộ phận thành viên [2, trang 213].2 Bản chất của kế toán trách nhiệm Để hổ trợ cho quản lý đo lƣờng và kiểm soát kết quả bộ phận, KTQT vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm đƣợc giao cho bộ phận.
Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán tập hợp kết quả theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm cá nhân nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức. 5 Mục tiêu của hệ thống kế toán trách nhiệm là nhằm đảm bảo sử dụng hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức. Tính hữu hiệu bao gồm việc hoàn thành những gì tổ chức muốn làm. Tính hiệu quả bao gồm việc hoàn thành các mục tiêu chung của tổ chức với chi phí thấp, thể hiện bằng lƣợng đầu ra đạt đƣợc trên một đơn vị đầu vào.
Tính hiệu quả đƣợc đo lƣờng mà không tính tới việc đầu ra có phù hợp với các mục tiêu của tổ chức hay không. Nhƣ vậy, một tổ chức có thể hoạt động hữu hiệu mà không hiệu quả và ngƣợc lại. Đầu ra thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng doanh thu; đầu vào thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng chi phí [4, trang 337]. Nhƣ vậy, KTTN đo lƣờng, đánh giá trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
Việc đánh giá này đƣợc dựa trên hai tiêu chí đó là tính hữu hiệu và tính hiệu quả. Để có thể đánh giá đƣợc tính hữu hiệu và hiệu quả, chúng ta phải lƣợng hóa đƣợc đầu vào và đầu ra của trung tâm trách nhiệm, qua đó xác định các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả hoạt động của từng trung tâm cụ thể. KTTN chỉ có thể đƣợc thực hiện trong đơn vị có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng. Bởi lẽ, mục tiêu chính của hệ thống KTTN là hạn chế tối đa những bất lợi, đồng thời giúp cho tổ chức gặt hái đƣợc những lợi ích của việc phân cấp trong quản lý [5, trang 8].3 Chức năng của kế toán trách nhiệm KTTN là một phƣơng pháp phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lƣờng biểu hiện của chúng.
Nói cách khác, KTTN là một “công cụ” để đo lƣờng về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau. Chức năng của KTTN đƣợc thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, KTTN giúp xác định sự đóng góp của từng đơn vị, bộ phận vào lợi ích của toàn bộ tổ chức. 6 Thứ hai, KTTN cung cấp một cơ sở cho việc đánh giá chất lƣợng và kết quả hoạt động của những nhà quản lý bộ phận. Thứ ba, KTTN đƣợc sử dụng để đo lƣờng kết quả hoạt động của các nhà quản lý và do đó, nó ảnh hƣởng đến cách thức thực hiện hành vi của các nhà quản lý này.
Thứ tƣ, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phƣơng cách phù hợp với những mục tiêu cơ bản của tòan bộ tổ chức.4 Đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm Thông tin KTTN là một bộ phận thông tin quan trọng của KTQT, và do vậy đối tƣợng sử dụng thông tin KTTN cũng gồm các nhà quản trị cấp thấp, cấp trung và cấp cao, nhằm đánh giá trách nhiệm quản trị của từng bộ phận cấu thành từng cấp quản lý cụ thể. Đối với nhà quản trị cấp cao: KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của DN. KTTN xác định các trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản lý có thể hệ thống hóa các công việc của từng trung tâm mà thiết lập các chỉ tiêu đánh giá. KTTN giúp nhà quản trị đánh giá và điều chỉnh các bộ phận cho thích hợp.
Đối với nhà quản trị cấp trung: KTTN cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý. Thông qua KTTN, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận. Báo cáo trách nhiệm phản hồi cho ngƣời quản lý biết thực hiện kế hoạch của các bộ phận ra sao, nhận diện các vấn đề hạn chế để có sự điều chỉnh các chiến lƣợc mục tiêu sao cho kết quả kinh doanh là tốt nhất. Đây có thể xem là nguồn thông tin quan trọng để nhà quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng doanh thu, giảm chi phí một cách hợp lý, và cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận.
Đối với nhà quản trị cấp thấp: KTTN khuyến khích nhà quản lý hƣớng đến mục tiêu chung của tổ chức. Mục tiêu chiến lƣợc của DN đƣợc gắn với các trung tâm trách nhiệm. Khi KTTN có thể 7 kiểm soát công tác tài chính và công tác quản lý, sẽ điều chỉnh hoạt động hƣớng đến các mục tiêu chung của DN. Đồng thời, bản thân các giám đốc trung tâm trách nhiệm đƣợc khích lệ hoạt động sao cho phù hợp với các mục tiêu cơ bản của toàn DN.
Tóm lại, một nhà quản trị chịu trách nhiệm cho hiệu quả hoạt động của bộ phận do mình quản lý thì họ sẽ cần thông tin về hoạt động đó. Về cơ bản, dù ở cấp quản trị nào, nhà quản lý cũng cần ba loại thông tin mà KTTN có thể cung cấp nhƣ sau: - Nguồn lực của bộ phận: đó là các thông tin về tài chính, nguyên vật liệu, nhân lực, máy móc, thời gian yêu cầu hoàn thành công việc… - Mức độ tiêu hao của các nguồn lực: là các thông tin về mức độ nhanh chóng, thuần thục của công nhân, mức độ phát sinh chi phí, mức độ tận dụng nguyên vật liệu. - Các nguồn lực đƣợc sử dụng nhƣ thế nào: đó là thông tin về mức độ hoàn thành công việc.5 Các mô hình kế toán trách nhiệm Có ba mô hình KTTN đƣợc áp dụng phổ biến trong thực tế doanh nghiệp: * Mô hình KTTN dựa trên chức năng: một hệ thống KTTN phân chia trách nhiệm đến các đơn vị chức năng và trình bày các thành quả thực hiện bằng các chỉ tiêu tài chính. Đây là hệ thống KTTN đƣợc phát triển bởi hầu hết các công ty hoạt động trong môi trƣờng ổn định tƣơng đối.
Mô hình tóm tắt của hệ thống này thể hiện qua quá trình xây dựng hệ thống nhƣ sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình kế toán trách nhiệm theo chức năng 8 * Mô hình KTTN dựa trên quy trình: một hệ thống KTTN đƣợc phân chia đến các quy trình và trình bày các thành quả thực hiện bằng các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Đây là hệ thống KTTN đƣợc phát triển bởi các công ty hoạt động trong môi trƣờng luôn cải thiện. Mô hình tóm tắt của hệ thống này thể hiện qua quá trình xây dựng hệ thống nhƣ sau: Sơ đồ 1.2: Mô hình kế toán trách nhiệm theo quy trình * Mô hình KTTN dựa trên chiến lƣợc: một hệ thống KTTN triển khai sứ mệnh, chiến lƣợc thành các mục tiêu hành động và đánh giá công ty trên bốn khía cạnh: khách hàng; tài chính; quy trình; kết cấu hạ tầng (khả năng sán tạo và phát triển). Mô hình tóm tắt của hệ thống này thể hiện qua quá trình xây dựng hệ thống nhƣ sau: Sơ đồ 1.3: Mô hình kế toán trách nhiệm theo chiến lược Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mô hình KTTN phù hợp nhất là mô hình KTTN dựa trên chức năng vì các lý do sau đây: 9 - KTTN dựa trên chức năng dựa trên việc phân chia theo đơn vị chức năng trong doanh nghiệp tƣơng ứng với các bộ phận trong doanh nghiệp, với các DN quy mô nhỏ và tổ chức đơn giản thì việc phân chia này khá thuận lợi và dễ dàng.
Để theo dõi doanh thu, chi phí, nguồn lực của các đơn vị chức năng, chúng ta đã xây dựng hệ thống mã tài khoản trong đó có phân lớp bộ phận trong mã tài khoản. - Việc quản lý chủ yếu dựa trên ngân sách với các chỉ tiêu thống kê tài chính là chủ yếu. Mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa vì các vấn đề quan tâm nhất của các nhà quản lý trong DN nhỏ và vừa là chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh và việc kiểm soát cũng khá đơn giản dựa trên so sánh dự toán và thực tế hoặc chi phí tiêu chuẩn với thực tế phát sinh.