CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường Theo luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/5/2005 thì có các loại hình doanh nghiệp như: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần. trong đó công ty cổ phần là một loại hình công ty căn bản với những đặc điểm sau: 1. Khái niệm công ty cổ phần - Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp nói trên, Công ty cổ phần được định nghĩa như sau: + Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: + Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; + Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; + Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; + Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 của luật này.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nước ta thì loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn tạo ra những ưu điểm vượt trội, một mặt đã tạo nên lực hút rất lớn của xã hội đầu tư vào hình thức kinh doanh này, mặt khác cũng đòi hỏi nhà nước ta cần có chính sách tạo hành lang pháp lý thuận lợi, an toàn cho các nhà đầu tư khi thành lập các công ty cổ phần để kinh doanh, nhất là việc hình thành một cơ chế quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của công ty cổ phần ở Việt Nam. Vai trò của Công ty Cổ phần trong sự phát triển của nền kinh tế Công ty Cổ phần có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt đối với nước ta, một nước có nền kinh tế mới được khởi sắc, đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực được thể hiện như sau: 5 Công ty cổ phần tạo ra công cụ để huy động vốn trong dân cư vào sản xuất, từ đó góp phần đẩy mạnh sự phát triển của sản xuất xã hội.
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thiếu vốn đang là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển. Huy động vốn trong nhân dân vừa là giải pháp cấp bách, vừa là giải pháp cơ bản trong chiến lược tạo vốn của từng doanh nghiệp. So với các hình thức huy động vốn: quỹ tiết kiệm, trái phiếu, tín phiếu. thì hình thức huy động vốn qua Công ty cổ phần có nhiều thuận lợi hơn đối với cả người vay lẫn người gửi.
giảm được mọi chi phí không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng vốn cũng như bảo vệ quyền lợi của người có vốn. Phát triển công ty cổ phần góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, khắc phục tình trạng thất nghiệp trong xã hội, được làm việc trong một môi trường và cơ chế mới, người lao động thực sự là chủ nhân của đất nước. Góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Thông qua thị trường chứng khoán, các nhà kinh doanh có thể huy động mọi nguồn tiết kiệm trong dân cư.
Nó là cơ sở quan trọng để Nhà nước thông qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu đã lựa chọn. Ngoài ra, các Công ty Cổ phần trong đó chủ yếu là các Công ty được hình thành từ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã có vai trò không nhỏ trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nước ta. Cổ phần hóa đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước đòi hỏi giải tỏa những khó khăn trong ngân sách chính phủ, khuyến khích người lao động đóng góp tích cực và có trách nhiệm sức lực, trí tuệ của họ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, Công ty Cổ phần ra đời và phát triển đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong phương thức hoạt động của các doanh nghiệp nước ta.
Công ty Cổ phần đóng vai trò lớn trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho đầu tư phát triển, nó cũng là cầu nối cho chúng ta tiếp thu những kinh nghiệm mới trong việc hợp lý hóa quản lý và tổ chức sản xuất. Vấn đề vốn được giải quyết đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, mặt khác nó đã cải thiện được một phần thu nhập cho người lao động. Đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán Công ty Cổ phần có những đặc điểm kinh tế - pháp lý cơ bản sau: - Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và 6 được thể hiện dưới hình thức chứng khoán gọi là cổ phiếu. Người có cổ phiếu là thành viên của công ty được gọi là cổ đông.
- Chứng chỉ do Công ty Cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số Cổ phần của Công ty gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu có thể có ghi tên hoặc không ghi tên. - Thành viên có trách nhiệm góp đủ số vốn tương ứng với số cổ phần đã đăng ký mua và chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân, số lượng cổ đông ít nhất là hai và không hạn chế mức tối đa.
- Công ty Cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán. - Công ty Cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. - Việc phân chia lợi ích, trách nhiệm và cơ chế ra quyết định trong Công ty Cổ phần chủ yếu dựa vào tỉ lệ vốn cổ phần của của cổ đông. Cổ đông có thể nắm giữ nhiều loại cổ phần khác nhau theo quy định của pháp luật và tình hình cụ thể của từng công ty (được quy định theo Điều lệ Công ty).
- Đặc trưng nổi bật của Công ty Cổ phần là việc quản lý tập trung thông qua cơ chế Hội đồng ra quyết định. Từ những đặc điểm cơ bản của Công ty Cổ phần, tùy vào quy mô hoạt động và lĩnh vực sản xuất kinh doanh sẽ ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác kế toán của mỗi Công ty, cụ thể: + Ảnh hưởng tới việc lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán: nếu Công ty Cổ phần có quy mô và vốn lớn, mặt hàng kinh doanh đa dạng thì nên áp dụng hình thức tổ chức công tác kế toán theo mô hình phân tán; còn đối với những Công ty Cổ phần có quy mô nhỏ và vừa, vốn ít và địa bàn tập trung nên hình thức tổ chức công tác kế toán theo mô hình tập trung là hợp lý, đảm bảo cho việc kiểm tra, kiểm soát công tác kế toán có hiệu quả. + Ảnh hưởng tới phương pháp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối với Công ty Cổ phần thường phát sinh các nghiệp vụ liên quan tới góp vốn thành lập công ty; tăng, giảm vốn điều lệ; phát hành và chuyển đổi trái phiếu; chuyển đổi trái phiếu 7 thành cổ phiếu; chi trả cổ tức cho các cổ đông; tổ chức lại và giải thể công ty. + Ảnh hưởng tới việc lựa chọn danh mục tài khoản kế toán: các Công ty Cổ phần sẽ lựa chọn danh mục tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị mình.
Ví dụ các Công ty Cổ phần sử dụng TK 343 – Trái phiếu phát hành và các TK chi tiết cấp 2 của tài khoản này phục vụ cho công tác hạch toán. Ngoài ra đối với các Công ty Cổ phần, các báo cáo tài chính năm (giữa niên độ) do phòng kế toán lập được đại hội đồng cổ đông thông qua mỗi kỳ họp sau khi đã được ban kiểm soát của công ty kiểm tra, thẩm định. Khái quát về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung của tổ chức quản lý doanh nghiệp nhưng bản chất của kế toán là một khoa học, vì vậy khái niệm tổ chức công tác kế toán thường được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà khoa học trường Đại học ngoại thương cho rằng: “Tổ chức công tác kế toán là việc sắp xếp, tổng hợp, phân bổ các yếu tố của hệ thống thông tin kế toán bao gồm: thu thập, xử lý, kiểm tra phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới thước đo giá trị, hiện vật và thời gian lao động bằng các báo cáo kế toán cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin”. Các nhà khoa học Học Viện tài chính lại định nghĩa: “Tổ chức công tác kế toán ở đơn vị là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp toàn bộ thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, sử dụng kinh phí ở đơn vị nhằm phục vụ cho công tác quản lý kinh tế, tài chính của đơn vị đó”. Theo các nhà khoa học Học viện ngân hàng thì “Tổ chức công tác kế toán trong một pháp nhân đơn vị Ngân hàng là việc tuân thủ Luật kế toán về tổ chức vận dụng các chuẩn mực, chế độ kế toán do Nhà nước, ngân hàng nhà nước ban hành cho phù hợp với điều kiện về tổ chức hoạt động kinh doanh ngân hàng, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ cụ thể của đơn vị ngân hàng”. Với chức năng thông tin và kiểm tra tình hình, kết quả hoạt động của doanh nghiệp một cách thường xuyên, nhanh nhạy và có hệ thống nên tổ chức công tác kế toán là một trong các mặt quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm.