LỜI MỞ ĐẦU Kế toán đƣợc định nghĩa là một hệ thống thông tin đo lƣờng, xử lý và cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó kế toán quản trị đƣa ra tất cả các thông tin kinh tế đã đƣợc đo lƣờng xử lý và cung cấp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp để điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hay nói cách khác kế toán quản trị giúp ban lãnh đạo doanh nghiệp cân nhắc và quyết định lựa chọn một trong những phƣơng án có hiệu quả kinh tế cao nhất: Phải sản xuất những sản phẩm nào, sản xuất bằng cách nào, bán các sản phẩm đó bằng cách nào, làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và phát triển khả năng sản xuất. Ở Việt Nam kế toán quản trị đang ngày càng đƣợc phát huy vai trò trong các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu. Các chuyên gia kế toán cũng nhƣ các nhà quản lý đã nhận thức đầy đủ về vai trò cũng nhƣ tác dụng của kế toán quản trị trong đời sống hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giáo trình “Kế toán quản trị” do TS. Hoàng Thị Hồng Lê và PGS. Chúc Anh Tú đồng chủ biên, cùng tham gia biên soạn là những giảng viên nhiều năm giảng dạy trong lĩnh vực kế toán của Trƣờng Đại học Công nghệ GTVT, gồm: TS. Hoàng Thị Hồng Lê - Trƣởng Khoa Kinh tế vận tải, Trƣờng Đại học Công nghệ GTVT chủ biên và biên soạn Chƣơng 5, 7.
Chúc Anh Tú - Giảng viên Học viện Tài chính chủ biên và biên soạn Chƣơng 1, 8. Nguyễn Thị Thái An - Giảng viên Bộ môn Kế toán - Kiểm toán, Khoa Kinh tế vận tải, Trƣờng Đại học Công nghệ GTVT đồng biên soạn Chƣơng 2, 6. Nguyễn Thị Diệu Thu - Giảng viên Bộ môn Kế toán- Kiểm toán, Khoa Kinh tế vận tải, Trƣờng Đại học Công nghệ GTVT biên soạn Chƣơng 3, 4. Trong lần xuất bản này, nhóm tác giả đã cố gắng bổ sung và chọn lọc những phần kiến thức phù hợp theo chƣơng trình giảng dạy và học tập của Trƣờng Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải.
Hy vọng, cuốn sách sẽ đáp ứng nhu cầu của bạn đọc. Tuy vậy, trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót và thể hiện ý kiến chủ quan của các tác giả, rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu từ phía bạn đọc để cuốn sách đƣợc hoàn chỉnh hơn trong những lần tái bản sau. Xin chân thành cảm ơn quý bạn đọc! Tập thể tác giả 11 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Mục tiêu: Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị, từ đó thấy đƣợc hệ thống thông tin KTQT và các yếu tố cấu thành hệ thống. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu của kế toán quản trị trên phƣơng diện lý thuyết và thực tiễn của nhà quản trị đối với doanh nghiệp.
Nội dung tổ chức công tác kế toán quản trị trong doanh nghiệp cụ thể để đáp ứng các nhu cầu thông tin phục vụ quản lý các cấp. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp đã đóng góp nhƣ thế nào đối với việc hoạch định chiến lƣợc, thực thi chiến lƣợc, lợi thế cạnh tranh, hoạch định và kiểm soát các hoạt động trong doanh nghiệp. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị Kế toán quản trị ra đời từ lâu, nhƣng ra đời khi nào thì còn có nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng kế toán quản trị ra đời từ những năm đầu thế kỷ XIX, nhƣng cũng có ý kiến cho rằng kế toán quản trị mới ra đời từ những năm 50 của thế kỷ XX. Kaplan và Anthony A. Atkinson, kế toán quản trị ra đời từ những năm đầu thế kỷ XIX ở Mỹ. Đầu tiên là hệ thống các nhà máy dệt ở Lowell (1814), sau đó là ngành đƣờng sắt (1840), ngành luyện kim (1872).
Tất cả đều xuất phát từ sự lớn mạnh về quy mô, sự phức tạp trong hoạt động và áp lực cạnh tranh. Tuy nhiên các kỹ thuật kế toán quản trị lúc này tập trung vào việc phát triển các phƣơng pháp xác định chi phí phục vụ cho mục tiêu đánh giá tài sản và đo lƣờng lợi nhuận. Hilton, kế toán quản trị ra đời từ những năm 50 của thế kỷ XX. Ông cho rằng, trƣớc những năm 1950, trọng tâm là kế toán chi phí.
Kể từ 1950 trở đi mới xuất hiện khái niệm kế toán quản trị, một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho các nhà quản trị hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Theo IFAC (2002), quá trình phát triển của KTQT diễn ra theo 4 giai đoạn. Giai đoạn 1: Trƣớc những năm 1950, trọng tâm của KTQT ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm soát tài chính. Các kỹ thuật kế toán đƣợc sử dụng là dự toán và kế toán chi phí.
Tuy nhiên, hoạt động KTQT mới dừng lại ở mức độ hoạt động chuyên môn thuần túy mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật. Giai đoạn 2: Từ 1950-1965, trọng tâm của KTQT là lợi nhuận. KTQT lúc này phải cung cấp thông tin cho các nhà quản trị thực hiện chức năng hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức. Về mặt kỹ thuật, KTQT đi sâu vào việc phân tích các quyết định; thiết kế và vận hành hệ thống kế toán trách nhiệm nhằm thu thập, xử lý và 13 cung cấp những thông tin cần thiết cho việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trị các cấp trong những tổ chức có phân cấp trong quản lý.
Vị trí của KTQT trong tổ chức lúc này đã đƣợc nâng lên một bậc. Từ chức năng nghiệp vụ chuyển thành hoạt động với chức năng tham mƣu, báo cáo cho các nhà quản trị. Giai đoạn 3: Từ 1965-1985, KTQT tập trung cắt giảm hao phí nguồn lực thông qua chiến lƣợc quản trị chi phí. Kỹ thuật kế toán đƣợc phát triển giai đoạn này là phân tích các quá trình và quản lý chi phí.
Hoạt động KTQT giai đoạn này là hoạt động theo nhóm. Giai đoạn 4: Từ 1985-1995, trọng tâm của KTQT là quản trị nguồn lực và tạo ra giá trị thông qua việc quản trị nguồn lực chiến lƣợc và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Kỹ thuật kế toán tập trung vào việc phân tích các yếu tố giá trị khách hàng, giá trị cổ đông và cải cách tổ chức. Hoạt động KTQT đƣợc xem là một bộ phận của quá trình quản trị.
Các giai đoạn phát triển của kế toán quản trị Giai Trọng tâm của KTQT Các kỹ thuật Vị trí của KTQT đoạn KTQT trong tổ chức Trƣớc Chi phí: xác định chi phí và Dự toán và kế toán Hoạt động mang những kiểm soát tài chính chi phí tính chuyên môn, năm 1950 nghiệp vụ Từ 1950 - Lợi nhuận: cung cấp thông tin Phân tích quyết định và Chức năng tham 1965 cho hoạch định và kiểm soát kế toán trách nhiệm mƣu, báo cáo cho quản lý Từ 1965 - Cắt giảm hao phí: tiết kiệm chi Phân tích quá trình và Hoạt động nhóm 1985 phí thông qua việc quản trị chi quản trị chi phí đƣơng phí chiến lƣợc đại Từ 1985 - Quản trị nguồn lực và tạo ra Phân tích các yếu tố giá Là một phần của 1995 giá trị: tạo ra giá trị thông qua trị khách hàng, giá trị quá trình quản trị quản trị nguồn lực chiến lƣợc - cổ đông và cải cách tổ sử dụng hiệu quả các nguồn lực chức Nhƣ vậy, theo quan điểm của IFAC thì quá trình phát triển của KTQT đƣợc ghi nhận theo 4 giai đoạn. Tuy nhiên, việc phân chia nhƣ vậy chỉ mang tính tƣơng đối, thực ra, sự phát triển của KTQT có sự chuyển hóa và hoàn thiện dần từ giai đoạn này đến giai đoạn khác. Mỗi quá trình của sự phát triển thể hiện sự đáp ứng của kế toán đối với yêu cầu quản trị trong môi trƣờng mới. Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, KTQT đã không ngừng hoàn thiện, phát triển đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình quản trị hiện đại.
14 Ở nƣớc ta, trƣớc năm 1995, chƣa xuất hiện khái niệm KTQT trong thực hành kế toán. Hệ thống kế toán Việt Nam là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế; đồng thời đảm nhiệm hệ thống thông tin có ích cho các quyết định kinh tế. Vì vậy, kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả hoạt động tài chính Nhà nƣớc và hoạt động tài chính doanh nghiệp. Do đó, các báo cáo kế toán giai đoạn này cũng đã có hình thức và một số nội dung tƣơng đồng với báo cáo KTQT, nhƣ các báo cáo chi phí, báo cáo phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp,… Tuy nhiên, những báo cáo này chủ yếu phục vụ cho việc quản lý điều hành ở cấp chủ quản; chƣa phục vụ trực tiếp cho việc quản lý điều hành tại doanh nghiệp.
Ngày 17/6/2003 Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 3 thông qua Luật Kế toán đầu tiên. Luật Kế toán này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004. Theo đó, tại Khoản 3 Điều 4 đã thừa nhận và đƣa ra định nghĩa về KTQT nhƣ sau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hành kế toán quản trị ở doanh nghiệp.
Khái niệm kế toán quản trị Trong nền kinh tế thị trƣờng, KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong các doanh nghiệp. Chức năng cơ bản của KTQT là công cụ hữu hiệu để các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp đƣa ra quyết định điều hành mọi hoạt động nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu KTQT đƣợc xem xét từ nhiều quan điểm đứng trên những lập trƣờng, góc độ khác nhau: Trƣờng phái KTQT của Mỹ: Quan điểm này cho rằng KTQT là công cụ gắn liền với hoạt động quản trị và nó đóng vai trò quan trọng giúp các tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách, kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức.