Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tiến trình chuyển dịch từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Trong môi trường cạnh tranh theo khuôn khổ pháp luật, doanh nghiệp sản xuất không còn hoạt động theo phương thức sản xuất giao nộp thuần túy theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, mà phải tự chủ hạch toán kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự bù đắp chi phí nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận để tồn tại và phát triển. Hoạt động bán hàng đóng vai trò là mắt xích quyết định chu kỳ tái sản xuất, là giai đoạn chuyển hóa hình thái vốn từ vốn hàng hóa, sản phẩm sang vốn tiền tệ, tạo nguồn thu hồi vốn và xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do đó, yêu cầu phản ánh khoa học, đầy đủ, chính xác và kịp thời công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trở thành điều kiện tiên quyết trong quản trị tài chính doanh nghiệp.
Xuất phát từ thực tế thời gian thực tập tại Nhà máy Quy chế Từ Sơn, tác giả Lê Thị Hà đã lựa chọn đề tài "Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở Nhà máy quy chế Từ Sơn" làm nội dung nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp, dưới sự hướng dẫn chuyên môn của Thạc sĩ Nghiêm Thị Thà.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đi sâu tìm hiểu, phân tích tình hình thực hiện công tác hạch toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Nhà máy Quy chế Từ Sơn, từ đó làm rõ mức độ tương thích giữa lý thuyết kế toán với thực tế vận hành và đề xuất các ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại đơn vị.
Về nhiệm vụ nghiên cứu, khóa luận xác định ba nhiệm vụ cơ bản của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng:
- Ghi chép đầy đủ, kịp thời khối lượng thành phẩm, hàng hóa, dịch vụ bán ra và bán hàng nội bộ; tính toán đúng đắn trị giá vốn của hàng đã bán, chi phí bán hàng và các chi phí khác nhằm xác định đúng đắn kết quả bán hàng.
- Kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, phân phối lợi nhuận, kỷ luật thanh toán và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Cung cấp thông tin chính xác, trung thực và đầy đủ về tình hình bán hàng, xác định kết quả và phân phối kết quả phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và quản lý điều hành doanh nghiệp.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ quy trình tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm hệ thống chứng từ ban đầu, tài khoản hạch toán, sổ kế toán chi tiết, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo tài chính liên quan.
Phạm vi nghiên cứu về không gian là Nhà máy Quy chế Từ Sơn (thị trấn Từ Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; tháng 10 năm 2000 đơn vị được đổi tên thành Công ty Quy chế Từ Sơn), một doanh nghiệp nhà nước chuyên ngành chế tạo cơ khí phụ tùng bu lông, ốc vít. Phạm vi về thời gian khảo sát tập trung vào các số liệu hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2004, kết hợp với các chứng từ phát sinh thực tế vào tháng 12 năm 2004. Khóa luận được hoàn thành vào tháng 5 năm 2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hệ thống chuẩn mực kế toán và các văn bản quy phạm pháp luật về kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam áp dụng ở thời điểm nghiên cứu:
- Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14) về Doanh thu và thu nhập khác: Đề tài căn cứ trực tiếp vào 5 điều kiện bắt buộc để ghi nhận doanh thu bán hàng bao gồm: bên bán đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm/hàng hóa cho người mua; bên bán không còn nắm giữ quyền quản lý như người sở hữu hoặc kiểm soát hàng hóa; doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế; xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
- Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính: Quy định khuôn khổ danh mục hệ thống tài khoản, biểu mẫu chứng từ, nguyên tắc hạch toán và hệ thống sổ kế toán.
- Quyết định số 217-HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng: Cơ sở pháp lý chuyển đổi cơ chế quản lý của các xí nghiệp quốc doanh sang tự chủ hạch toán kinh tế.
- Quyết định số 63/QĐ-TC ngày 24/4/1995 của Giám đốc Nhà máy Quy chế Từ Sơn: Căn cứ quy định chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban và phân xưởng sản xuất trong nhà máy.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là phương pháp hạch toán kế toán nghiệp vụ kết hợp với khảo sát thực địa tại doanh nghiệp:
- Phương pháp chứng từ kế toán: Thu thập, kiểm tra và phân tích quy trình luân chuyển chứng từ gốc thực tế (Hóa đơn GTGT, Phiếu thu, Giấy báo Có, Phiếu xuất kho).
- Phương pháp tài khoản và ghi kép: Khảo sát việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán tổng hợp và phân tích tài khoản cấp hai (TK 511, TK 512, TK 521, TK 531, TK 532, TK 632, TK 641, TK 642, TK 911, TK 421, TK 155, TK 131, TK 3331...).
- Phương pháp tính giá: Phân tích các mô hình tính giá xuất kho thành phẩm (phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập, phương pháp nhập trước - xuất trước FIFO, nhập sau - xuất trước LIFO, giá đích danh và giá hạch toán qua hệ số giá).
- Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Nghiên cứu trật tự luân chuyển số liệu từ sổ chi tiết, bảng kê sang Nhật ký chứng từ và Sổ Cái để lập báo cáo tài chính.
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh số liệu: Đánh giá biến động các chỉ tiêu kinh doanh giai đoạn 2002 - 2004 tại nhà máy.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là các tài liệu gốc tại Phòng Tài chính - Kế toán của Nhà máy Quy chế Từ Sơn, bao gồm hệ thống báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối tài khoản, Bảng kê số 5, Bảng kê số 8, Bảng kê số 9, Bảng kê số 10, Bảng kê số 11, Nhật ký chứng từ số 8, Nhật ký chứng từ số 10, Sổ chi tiết bán hàng, Sổ chi tiết tài khoản 131 và các hóa đơn tài chính phát sinh cụ thể trong niên độ kế toán năm 2004.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong các doanh nghiệp sản xuất
Chương này trình bày cơ sở lý luận tổng quan về tiêu thụ sản phẩm và phương pháp hạch toán kế toán trong loại hình doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
- Bản chất và vai trò của bán hàng: Tác giả xác định bán hàng là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa. Bán hàng và sản xuất có quan hệ hữu cơ: sản xuất tạo tiền đề cho tiêu thụ, ngược lại tiêu thụ giải phóng vốn ứ đọng, tạo điều kiện tái sản xuất mở rộng. Kết quả bán hàng là thước đo chi phối kết quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp thông qua so sánh giữa doanh thu thuần với giá vốn và các chi phí thời kỳ.
- Phương thức bán hàng và tiêu chuẩn ghi nhận: Khái quát các phương thức tiêu thụ phổ biến: bán hàng trực tiếp (thu tiền ngay, bán chịu), bán hàng trả góp/trả chậm (chênh lệch giữa giá trả chậm và giá bán ngay tính vào doanh thu chưa thực hiện qua TK 3387), đổi hàng (tính theo giá bán thị trường có thuế GTGT đầu ra và đầu vào) và gửi hàng đại lý ký gửi (hàng hóa chỉ mất quyền sở hữu khi đại lý thông báo đã bán hàng; hạch toán hoa hồng đại lý vào TK 641).
- Các khoản giảm trừ doanh thu: Trình bày chi tiết cách hạch toán chiết khấu thương mại (gồm hồi khấu và bớt giá qua TK 521), giảm giá hàng bán do sai quy cách, kém chất lượng (TK 532), hàng bán bị trả lại (TK 531) và thuế gián thu (thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp), đồng thời mô tả bút toán kết chuyển giảm trừ doanh thu thuần vào TK 511 cuối kỳ.
- Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Phân tích kết cấu 7 yếu tố của chi phí bán hàng (TK 641: nhân viên bán hàng, vật liệu bao bì, dụng cụ đồ dùng, khấu hao TSCĐ, bảo hành sản phẩm, dịch vụ mua ngoài, bằng tiền khác) và 8 yếu tố của chi phí quản lý doanh nghiệp (TK 642: nhân viên quản lý, vật liệu quản lý, đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ, thuế/phí/lệ phí, chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi và giảm giá hàng tồn kho, dịch vụ mua ngoài, bằng tiền khác). Tác giả chỉ rõ đối với doanh nghiệp chu kỳ sản xuất dài, chi phí này có thể kết chuyển vào TK 1422 (chi phí chờ kết chuyển) thay vì kết chuyển toàn bộ vào TK 911 trong kỳ.
- Kế toán tính giá và hạch toán thành phẩm: Hệ thống hóa các phương pháp tính giá thực tế thành phẩm xuất kho (FIFO, LIFO, bình quân, đích danh, giá hạch toán) và các phương pháp hạch toán chi tiết kho thành phẩm gồm phương pháp Thẻ song song, phương pháp Đối chiếu luân chuyển và phương pháp Sổ số dư.
- Hình thức sổ kế toán: Trình bày quy trình ghi chép theo Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT đối với ba hình thức sổ kế toán: Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ và Nhật ký chứng từ (trọng tâm là Nhật ký chứng từ số 8 và Bảng kê số 5, 8, 9, 10, 11).
Chương 2: Tình hình thực hiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng ở Nhà máy quy chế Từ Sơn
Chương 2 mô tả thực trạng tổ chức sản xuất, bộ máy quản lý và toàn bộ quy trình kế toán nghiệp vụ bán hàng tại đơn vị khảo sát:
- Lịch sử hình thành và cơ sở vật chất: Nhà máy thành lập ngày 18/11/1963 theo quyết định của Bộ Công nghiệp, là nhà máy cơ khí đầu tiên tại thị trấn Từ Sơn - Bắc Ninh sản xuất bu lông, ốc vít phục vụ cơ khí, điện lực, xây dựng, mỏ. Tháng 10 năm 2000, nhà máy đổi tên thành Công ty Quy chế Từ Sơn. Tổng diện tích đất kinh doanh vào khoảng 40.000 m2; cơ sở ban đầu gồm 1.456 m2 nhà xưởng, 22 thiết bị máy móc và 285.000 đồng vốn. Công nghệ chủ yếu là dập nóng, dập nguội và cắt gọt cơ khí tạo ra các sản phẩm bu lông, đai ốc theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) phục vụ các công trình lớn (Đường tàu thống nhất Bắc - Nam, cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, Thủy điện Hòa Bình).
- Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2002 - 2004: Nhà máy đạt được các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như sau:
| STT |
Chỉ tiêu |
Đơn vị tính |
Năm 2002 |
Năm 2003 |
Năm 2004 |
| 1 |
Doanh thu bán hàng |
Triệu đồng |
14.500 |
— |
— |
| 2 |
Số vốn kinh doanh (số cuối năm) |
Triệu đồng |
10.000 |
— |
— |
| 3 |
Nộp ngân sách |
Triệu đồng |
276 |
296 |
607 |
| 4 |
Số lượng cán bộ công nhân viên |
Người |
415 |
420 |
420 |
(Ghi chú: Dữ liệu doanh thu và vốn kinh doanh các năm 2003 - 2004 để trống theo đúng văn bản gốc của tác giả).
- Cơ cấu sản xuất và danh mục sản phẩm: Dây chuyền sản xuất gồm 4 phân xưởng chính (PX dập nóng, PX dập nguội và chuẩn bị sản xuất, PX cơ khí cắt gọt, PX mạ và lắp ráp) và 3 phân xưởng phụ (PX dụng cụ, PX cơ điện, PX cơ khí dân dụng). Sản phẩm phân chia thành 12 nhóm chính, phục vụ thị trường nội địa: bu lông tinh, bu lông thô, bu lông mạ nhúng, bu lông cường độ cao, đai ốc tinh, đai ốc bán tinh, phụ tùng xe máy, phụ tùng xe đạp, tắc kê ô tô...
- Bộ máy quản lý và tổ chức kế toán: Bộ máy kế toán gồm 9 nhân sự hoạt động tập trung theo sự phân công của Kế toán trưởng: 1 Kế toán trưởng, 1 Phó phòng kiêm kế toán tổng hợp, 1 Phó phòng thường trực hạch toán nội bộ (kế toán quản trị) và 6 kế toán viên (kế toán bán hàng, kế toán hàng tồn kho, kế toán tiền lương và thanh toán, kế toán TSCĐ và nguồn vốn, kế toán vốn bằng tiền, kế toán BHXH kiêm thuế GTGT). Niên độ kế toán từ 01/01 đến 31/12; phương pháp hạch toán hàng tồn kho là kê khai thường xuyên; phương pháp tính giá xuất kho là phương pháp đích danh; phương pháp hạch toán chi tiết kho là phương pháp Sổ số dư.
- Hình thức sổ và quy trình luân chuyển chứng từ: Nhà máy áp dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ theo Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT. Bán hàng thực hiện theo đơn đặt hàng, bán trực tiếp tại kho hoặc phân xưởng (thu tiền ngay hoặc trả chậm), áp dụng chung một mức giá và có chính sách chi thưởng tiền tàu xe khi mua khối lượng lớn. Hóa đơn GTGT do Phòng Tài chính - Kế toán lập 3 liên (Liên 1 lưu tại phòng, Liên 2 giao khách hàng, Liên 3 giao thủ kho làm căn cứ xuất hàng). Kế toán ghi chép kết hợp giữa Bảng kê chi tiết doanh thu, Báo cáo bán hàng chi tiết, Bảng kê số 11, Sổ chi tiết TK 131 và kết chuyển vào Nhật ký chứng từ số 8, số 10 để lên Sổ Cái TK 155, 511, 632, 911.
- Nghiệp vụ thực tế minh họa: Nghiệp vụ ngày 15/12/2004 xuất bán bu lông cho Công ty Xây lắp điện 1 theo Hóa đơn GTGT số 0082554 (Người mua: Nguyễn Tiến Đồng, 18 Lý Văn Phúc, Đống Đa, Hà Nội; MST người mua: 0100906101-001; Mã số thuế nhà máy: 0100100671-005; thanh toán bằng tiền mặt), trị giá xuất kho 12 triệu đồng, trị giá lô hàng chưa thuế GTGT 12 triệu đồng, tổng giá thanh toán 13 triệu đồng (thuế GTGT 10%).
Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở Nhà máy Quy Chế Từ Sơn
Theo đề cương và kết cấu do tác giả xác lập tại phần mở đầu khóa luận, Chương 3 là phần nghiên cứu dành cho việc đề xuất các giải pháp mang tính hoàn thiện cho công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Nhà máy Quy chế Từ Sơn. Căn cứ vào phạm vi phân tích thực trạng tại Chương 2, nội dung định hướng của chương này tập trung giải quyết các bất cập phát sinh trong quy trình hạch toán, cải tiến thủ tục luân chuyển chứng từ hóa đơn, hoàn thiện việc theo dõi sổ sách chi tiết tài khoản công nợ khách hàng (TK 131) và nâng cao hiệu quả đối chiếu giữa Sổ số dư tại kho và phòng kế toán phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của khóa luận mang lại các kết quả và đóng góp cụ thể trên các khía cạnh:
- Về mặt học thuật và lý luận: Khóa luận hệ thống hóa một cách chi tiết các khái niệm, nguyên tắc kế toán về doanh thu, chi phí và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 và Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT. Tác giả đã làm rõ cấu trúc 7 khoản mục chi phí bán hàng, 8 khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp, đồng thời so sánh ưu - nhược điểm của các phương pháp tính giá xuất kho và phương pháp quản trị chi tiết kho thành phẩm.
- Về mặt dữ liệu thực tế: Khóa luận cung cấp nguồn số liệu thực chứng xác thực về tình hình sản xuất kinh doanh của Nhà máy Quy chế Từ Sơn qua các năm 2002 - 2004, bao gồm số liệu doanh thu bán hàng năm 2002 đạt 14.500 triệu đồng, vốn kinh doanh cuối năm 2002 đạt 10.000 triệu đồng; chỉ tiêu nộp ngân sách tăng đều qua các năm (276 triệu đồng năm 2002, 296 triệu đồng năm 2003 và đạt 607 triệu đồng năm 2004); quy mô nhân sự ổn định ở mức 415 đến 420 người.
- Về mặt thực tiễn nghề nghiệp: Đề tài phản ánh chi tiết mô hình tổ chức bộ máy kế toán 9 người tại một doanh nghiệp cơ khí nhà nước quy mô vừa; mô tả chân thực quy trình kết hợp luân chuyển chứng từ giữa thủ kho và kế toán thông qua phương pháp Sổ số dư và phiếu giao nhận chứng từ; trình bày nghiệp vụ ghi sổ Nhật ký chứng từ số 8, số 10 gắn với các chứng từ phát sinh thực tế (Hóa đơn GTGT ngày 15/12/2004).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Dữ liệu nghiên cứu tại thời điểm thực hiện khóa luận (tháng 5/2005) mới chỉ thu thập được đầy đủ chỉ tiêu doanh thu và vốn kinh doanh của năm 2002, trong khi số liệu doanh thu năm 2003 và 2004 chưa được tổng hợp trong bảng số liệu chung. Đồng thời, phạm vi nghiên cứu bị giới hạn trong mô hình kế toán thủ công sử dụng hình thức Nhật ký chứng từ tại một doanh nghiệp sản xuất cơ khí duy nhất, chưa mở rộng so sánh với các hình thức sổ kế toán khác hoặc khảo sát ứng dụng tin học hóa kế toán.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình tổ chức kế toán bán hàng sau khi nhà máy chuyển đổi tổ chức quản trị sang mô hình Công ty Quy chế Từ Sơn; nghiên cứu chuyển đổi từ hình thức ghi sổ thủ công Nhật ký chứng từ sang ứng dụng các phần mềm kế toán chuyên dụng trên máy vi tính; cập nhật việc áp dụng chế độ kế toán mới khi Bộ Tài chính ban hành các thông tư, quyết định thay thế Quyết định 1141/TC/QĐ/CĐKT.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp: Cung cấp trường hợp thực tế (case study) về việc vận dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ - một hình thức kế toán có độ phức tạp cao, đòi hỏi tính kỷ luật và trình độ chuyên môn cao của nhân sự kế toán trong việc phân loại và đối chiếu bảng kê, nhật ký chứng từ và sổ cái.
- Cán bộ kế toán và nhà quản lý tại các doanh nghiệp sản xuất cơ khí, chế tạo phụ tùng: Tham khảo cách thiết kế quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng trực tiếp theo đơn đặt hàng, cơ cấu phân công nhiệm vụ của phòng kế toán 9 người, và phương pháp hạch toán chi tiết kho thành phẩm theo phương pháp Sổ số dư kết hợp tính giá xuất kho đích danh cho các sản phẩm cơ khí bu lông, đai ốc.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Sơ đồ và quy trình hạch toán chi tiết hàng tồn kho bằng phương pháp Sổ số dư giữa thủ kho và phòng kế toán; quy trình lập, xử lý và phân bổ 3 liên của Hóa đơn GTGT gắn liền với Bảng kê số 11 và Nhật ký chứng từ số 8.
Câu hỏi thường gặp
1. Nhà máy Quy chế Từ Sơn được thành lập vào thời gian nào và có những năng lực ban đầu ra sao?
Nhà máy Quy chế Từ Sơn được thành lập ngày 18/11/1963 theo quyết định của Bộ Công nghiệp, đặt tại thị trấn Từ Sơn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (tháng 10/2000 đổi tên thành Công ty Quy chế Từ Sơn). Năng lực ban đầu được Nhà nước trang bị gồm 1.456 m2 nhà xưởng, 22 máy móc thiết bị và nguồn vốn ban đầu là 285.000 đồng, với tổng diện tích đất kinh doanh vào khoảng 40.000 m2.
2. Cơ cấu tổ chức Phòng Tài chính - Kế toán của nhà máy gồm bao nhiêu nhân sự và đảm nhiệm những vị trí nào?
Phòng Tài chính - Kế toán của nhà máy gồm có 9 người, được phân công nhiệm vụ cụ thể: 1 Kế toán trưởng, 1 Phó phòng kiêm kế toán tổng hợp, 1 Phó phòng thường trực hạch toán nội bộ (kế toán quản trị) và 6 kế toán viên phụ trách các phần hành: kế toán bán hàng, kế toán hàng tồn kho (NVL, CCDC, thành phẩm), kế toán tiền lương và các khoản thanh toán, kế toán TSCĐ và nguồn vốn, kế toán vốn bằng tiền, kế toán BHXH kiêm kế toán thuế GTGT.
3. Nhà máy áp dụng hình thức sổ kế toán nào, và thực hiện phương pháp tính giá, hạch toán kho thành phẩm ra sao?
Nhà máy áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký chứng từ theo Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT của Bộ Tài chính. Phương pháp kế toán hàng tồn kho là kê khai thường xuyên; phương pháp hạch toán chi tiết hàng tồn kho tại kho là phương pháp Sổ số dư; phương pháp tính trị giá thành phẩm xuất kho là phương pháp đích danh.
4. Các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của nhà máy trong giai đoạn 2002 - 2004 đạt mức bao nhiêu?
Năm 2002, doanh thu bán hàng đạt 14.500 triệu đồng và vốn kinh doanh cuối năm đạt 10.000 triệu đồng. Số tiền nộp ngân sách nhà nước tăng liên tục qua các năm: đạt 276 triệu đồng năm 2002, 296 triệu đồng năm 2003 và tăng lên 607 triệu đồng năm 2004. Số lượng cán bộ công nhân viên là 415 người năm 2002 và duy trì 420 người trong hai năm 2003 - 2004.
5. Quy trình lập và luân chuyển Hóa đơn GTGT khi bán hàng tại nhà máy được tiến hành như thế nào?
Hóa đơn GTGT do Phòng Tài chính - Kế toán lập thành 3 liên căn cứ theo đơn đặt hàng và bảng báo giá: Liên 1 lưu lại tại Phòng Tài chính - Kế toán để ghi sổ theo dõi doanh thu và các sổ liên quan; Liên 2 gửi cho khách hàng làm chứng từ đi đường và ghi sổ kế toán đơn vị mua; Liên 3 gửi cho thủ kho làm căn cứ xuất hàng khỏi kho.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán số 14 và Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT. Đề tài phản ánh chi tiết thực tiễn tổ chức hạch toán qua hình thức sổ Nhật ký chứng từ và phương pháp Sổ số dư tại Nhà máy Quy chế Từ Sơn với nguồn dữ liệu chứng từ xác thực giai đoạn 2002 - 2004. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu đối với sinh viên chuyên ngành kế toán cũng như cán bộ nghiệp vụ tại các doanh nghiệp sản xuất cơ khí.