CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦATHANH TRA TỈNH 1. Khái quát chung về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tỉnh 1. Khái niệm tổ chức, hoạt động 1. Quan niệm về tổ chức “Tổ chức” là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến.
Nguyên nghĩa của "tổ chức" “organization” theo tiếng Hy lạp là để chỉ một cơ quan nào đó của cơ thể người, có chức năng nhất định, là kết cấu tự nhiên trong chỉnh thể người. Theo sự tiến bộ của xã hội, khái niệm tổ chức cũng được mở rộng: “Tổ chức được ghép vào lĩnh vực xã hội, coi tổ chức là một tổ hợp xã hội, một tập thể gồm những người hợp lại với nhau để thực hiện một mục tiêu nào đó”. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: tổ chức là “hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì mục tiêu chung”.[7] Đồng thời, “tổ chức” còn được xem là một chức năng lãnh đạo quản lý thể hiện ở việc thực hiện các chức năng nhất định, chủ yếu là xác định về mặt nội dung (làm gì), theo kế hoạch nào (ai làm và làm theo trình tự nào, làm như thế nào,…) và chỉ huy, phối hợp, giám sát và kiểm tra. Các chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt động quản lý.
Từ các phân tích trên có thể đi đến một cách hiểu thống nhất vềtổ chức như sau: "Tổ chức là sự tập hợp những sự vật, con người thành nhóm theo những cơ cấu và quy luật vận động nhất định vì tính chỉnh thể, tính hướng đích trong bản thân nhóm đó cũng như trong quan hệ của nhóm với những nhóm khác, chỉnh thể khác". Quan niệm về hoạt động Theo tâm lý học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan và với chính bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con người (chủ thể). Hoạt động không chỉ bó hẹp trong nghĩa hoạt động của một cá nhân, khi một nhóm người trong cùng một tập thể đều hoạt động với cùng một mục đích trong một hình thái cơ cấu ổn định sẽ tạo nên hoạt động của một tổ chức.
4 Hoạt động của các tổ chức là muôn hình muôn vẻ phụ thuộc vào mục đích tồn tại, lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội, quy mô, phương thức hoạt động được chủ thể quản lý lựa chọn và các yếu tố ngoại lai khác. Tuy nhiên mọi tổ chức đều phải thực hiện các hoạt động theo một tiến trình liên hoàn trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường. Quan niệm về thanh tra Lịch sử phát triển của xã hội loài người, Nhà nước đã xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công với sứ mạng lịch sử là duy trì trật tự xã hội và tổ chức phát triển xã hội. Để thực hiện được sứ mạng lịch sử đó, Nhà nước thực hiện quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động của xã hội.
Nhiệm vụ cơ bản trong quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước là dự đoán, kế hoạch, tổ chức, động viên, điều hành, thanh tra, kiểm tra. Như vậy, thanh tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và mang tính quyền lực nhà nước. “Thanh tra” có thể được hiểu là một hoạt động mang tính chất đặc thù, cũng có thể được hiểu là một cơ quan, hay một nhiệm vụ cơ bản trong quản lý nhà nước. Theo như Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học xã hộithì “thanh tra” có nghĩa là: “sự kiểm soát đối với đối tượng bị thanh tra trên cơ sở thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định”.[20] Khi nhận định và đánh giá về “Thanh tra”, trước hết phải tìm hiểu về nguồn gốc của từ “Thanh tra” trong lịch sử loài người.
Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định.Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra “là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra”. Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra “là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sự tác động có tính trực thuộc”. Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”. Với nghĩa này, Thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: “xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định”.
Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ thanh tra” “đoàn thanh tra của Bộ” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”. [10] 5 Trên khía cạnh pháp luật của nước ta, khái niệm thanh tra được giải thích tại Khoản 1, Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 như sau: “Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”.[13] Như vậy, khái niệm thanh tra trong hệ thống văn bản pháp luật của nước ta dù đề cập trên phương diện rộng hay hẹp của thanh tra nói chung hay thanh tra nhà nước nói riêng thì cũng đều nhấn mạnh được bản chất của thanh tra là một chức năng, một hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Từ những phân tích nêu trên có thể khái quát khái niệm thanh tra như sau: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do phápluật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo về lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”.
Phân biệt Thanh tra – Kiểm tra – Giám sát: Thanh tra Kiểm tra Giám sát Cơ quan thanh tra Cơ quan nhà nước Cơ quan quyền nhà nước; cơ quan và tổ chức chính trị lực nhà nước: Chủ thể được giao thực hiện xã hội. Quốc hội, Hội chức năng thanh tra đồng nhân dân chuyên ngành. 6 Tổ chức chính trị xã hội, nhân dân. Thanh tra viên phải Chủ yếu là kiêm Chủ yếu là kiêm có nghiệp vụ, am nhiệm.
hiểu, có kĩ năng Chuyên môn chuyên sâu về nghiệp vụ thanh tra. Cơ quan, tổ chức, Trong nội bộ tổ Các cơ quan nhà cá nhân thuộc thẩm chức hoặc cơ quan, nước từ Trung quyền quản lý của tổ chức, cá nhân ương đến địa Đối tượng cơ quan nhà nước cấp dưới. phương; cán bộ, cùng cấp công chức, viên chức nhà nước Thanh tra việc thực Kiểm tra toàn diện Tính hợp hiến, hiện chính sách theo yêu cầu của hợp pháp trong pháp luật, nhiệm vụ hoạt động quản lý ban hành văn bản Phạm vi và nội của cơ quan, tổ và của từng loại cơ quy phạm pháp dung chức, cá nhân quan tổ chức. luật và hoạt động thuộc quyền quản của cơ quan nhà lý.
Nhằm phát hiện sơ Nhằm giúp chủ thể Nhằm theo dõi hở trong cơ chế quản lý kiểm tra hoạt động của cơ quản lý, chính sách, được hoạt động quan quản lý nhà pháp luật, phòng trong nội bộ cơ nước; góp phần ngừa, phát hiện và quan tổ chức, giữa hoàn thiện cơ chế Mục đích xử lý hành vi vi cấp trên với cấp hoạt động của các phạm pháp luật; dưới. Nhằm phát cơ quan quản lý giúp cơ quan, tổ hiện những thiếu nhà nước. Đảm chức, cá nhân thực sót, vi phạm trong bảo quyền làm hiện đúng quy định quá trình hoạt động chủ của nhân dân. của pháp luật;phát để kịp thời đưa ra 7 huy nhân tố tích biện pháp giải cực; góp phần nâng quyết.
Đồng thời cao hiệu lực, hiệu góp phần phát huy quả hoạt động quản nhân tố tích cực, lý nhà nước. nâng cao hiệu quả hoạt động. Cơ quan thanh tra tỉnh Theo quy định tại Điều 4 Luật Thanh tra hiện hành quy định: “Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.[13] Với tư cách là cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thanh tra tỉnh là đơn vị tương đương cấp sở chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo về công tác hướng dẫn về tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ.Thanh tra tỉnh không chỉ có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng mà còn tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật trong phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thanh tra tỉnh có Chánh thanh tra, Phó chánh thanh tra và Thanh tra viên.
Chánh thanh tra tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Chính phủ; Phó chánh thanh tra tỉnh cũng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh thanh tra tỉnh.