Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA SỞ Y TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ THANH TRA SỞ 1. Khái niệm và đ¾c điểm thanh tra Sở Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định. Từ điển Luật học (tiếng Đức) giải thích thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định-một sự tác động đó có tính trực thuộc [24, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra là xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, tổ chức để phát hiện và ngăn chặn những gì trái ví quy định” [28, tr. Từ góc độ này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Khái niệm thanh tra thường đi kèm với một chủ thể và liên quan đến phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định. Trong sách báo pháp lý ở nước ta, khái niệm thanh tra được hiểu dưới các góc độ khác nhau.
Một cách phổ biến nhất, thanh tra thường được hiểu là sự xem xét, kiểm soát, kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết để kiến nghị với các cơ quan nhà nước khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm Thanh tra được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp luật về thanh tra. Điều 1 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 định nghĩa thanh tra như sau: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là 7 phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiệc các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ kế hoạch nhà nước của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức và cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thành cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân”.
Tại điều 4 Luật Thanh tra 2004 quy định “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp luật” Tại Luật Thanh tra 2010 đưa ra khái niệm: Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điều 3). Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 8 Trong thực tế, có hai khái niệm gần nhau là “thanh tra” và “kiểm tra”. Giữa hai khái niệm này có những nét tương đồng như: (i) Đều là một hoạt động không thể thiếu của quá trình quản lý; (ii) Là một chức năng của quản lý nhà nước nhằm hướng hoạt động của chủ thể quản lý vào một mục đích nhất định.
Tuy nhiên, giữa chúng cũng có những điểm khác biệt cơ bản: - Chủ thể của kiểm tra rộng hơn chủ thể thanh tra (có thể là Nhà nước hoặc các tổ chức phi nhà nước), trong khi chủ thể tiến hành thanh tra chỉ là Nhà nước. - Mục đích thực hiện của thanh tra rộng hơn, sâu hơn so với kiểm tra. - Khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra áp dụng những biện pháp nghiệp vụ sâu hơn kiểm tra, đi vào thực chất đến tận cùng của vấn đề như: xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, chất vấn, giám định. Đặc biệt, trong quá trình thanh tra, các Đoàn thanh tra còn có thể áp dụng những biện pháp cần thiết để phục vụ thanh tra theo quy định của pháp luật về thanh tra để tác động lên đối tượng bị quản lý.
- Phạm vi hoạt động của kiểm tra thường theo bề rộng, diễn ra liên tục, ở khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng, trong khi đó phạm vi hoạt động thanh tra thường hẹp hơn. - Thời gian tiến hành một cuộc thanh tra thường dài hơn kiểm tra vì có rất vấn đề phải xác minh, đối chiếu công phu, nhiều mối quan hệ cần được làm rõ. Như vậy, có thể nhận diện thanh tra nhà nước trên những điểm sau: Thứ nhất, thanh tra là một hoạt động, một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là cơ chế tự kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp. Thứ hai, hoạt động thanh tra được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền là cơ quan thanh tra nhà nước.
9 Thứ ba, thanh tra có nội dung là xem xét, đánh giá hoạt động của đối tượng thanh tra là đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp (đây là đối tượng thực hiện quyền hành pháp, vì vậy họ cũng chính là đối tượng quản lý) Thứ tư, mục đích thanh tra không chỉ phát hiện, phòng ngừa vi phạm và phát hiện sai sót trong cơ chế quản lý, pháp luật mà còn nhằm kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền khắc phục sai sót, xử lý vi phạm pháp luật; hoàn thiện cơ chế quản lý, pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Thứ năm, thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (Khoản 2 Điều 3), bao gồm: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó (Khoản 3 Điều 3), bao gồm thanh tra Bộ và thanh tra Sở.
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm thanh tra Sở như sau: Thanh tra Sở là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của sở, được thành lập ở những sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc theo quy định của pháp luật, giúp Giám đốc sở tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Thanh tra sở có các đặc điểm sau đây: - Về tổ chức: Là đơn vị cấp phòng trong cơ cấu tổ chức của sở; - Về hoạt động: Tiến hành thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng và chống tham nhũng trong phạm vi địa giới hành chính cấp tỉnh. 10 - Về trách nhiệm: Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc sở; sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh; về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra bộ. Vai trò của thanh tra sở Vai trò của thanh tra sở được thể hiện ở các khía cạnh sau: - Là công cụ kiểm định, đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
Hoạt động của thanh tra sở nhằm phát hiện kịp thời những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý đồng thời đề xuất những kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa hiệu quả trong quản lý và sử dụng các nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động thanh tra, các chủ thể quản lý có được những thông tin góp phần phát hiện những thay đổi và dự báo những vấn đề sẽ phát sinh để có những biện pháp phòng ngừa. - Là phương thức đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý nhà nước, góp phần tăng cường pháp quyền. Thanh tra sở thực hiện giám sát hoạt động của các đối tượng bị quản lý và xem xét, kiến nghị giải quyết, khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực hiện chính sách pháp luật, chức trách, nhiệm vụ được giao trên địa bàn tỉnh.
Qua đó, góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý và hoàn thiện cơ chế quản lý. Bên cạnh đó, thanh tra sở còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều kiện cho những nhân tố mới, cơ chế mới tích cực phát triển. - Là phương tiện phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm phát sinh trong quản lý nhà nước. 11 Các thông tin và kết luận của thanh tra sở có tác dụng giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật ở đối tượng quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, tác dụng này chỉ có được khi các kết luận, kiến nghị thanh tra được đưa ra trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan, đúng pháp luật, hợp lý và cán bộ thanh tra là người không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức.