CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÔ CHỨC HOẠT ĐỘNG. NHAN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỒ TRỢ CỦA E- LEARNING 'CHƯƠNG 2: THIẾT KE TIEN TRINH TO CHUC HOAT DONG NHAN THUC TRONG DAY HOC CHUONG CHAT KH - VAT LY 10 TRUNG HOC PHO THONG VOI SU HO TRO CUA E-LEARNING 'CHƯƠNG 3: THUC NGHIEM SU PHAM KẾT LUẬN “TÀI LIỆU THAM KH PHỤ LỤC NỘI DUNG HƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÔ CHỨC JOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA E-LEARNING 1. Hoạt động nhận thức 1. Khái niệm hoạt động nhận thức [18|.|21] Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người bao gồm nhận thức, nh cảm và hành động, Trong đó nhận thức là iễn đề và đồng thời cố quan hệ chất chẽ với bai mặt tỉnh cảm, hành động và các hiện tượng tâm lý khác.
Nhận thức là một quá tình. Ở con người, quá trình này thường gắn với mục ích nhất định nên nhận thức của con người là một hoại động, Đặc trưng ni bật nhất của HĐNT là phản ánh hiện thực khách quan. Hoạt động này bao gồm nhiều cquá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh biện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hi thực khách quan. Trong việc nhận thức thể giới, con người có thé đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ dơn giản đến phúc tạp.
Căn cứ vào mức độ phản ánh có thể chia HDNT thành hai giải đoạn lớn đó là giai đoạn nhân thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính “Giai đoạn nhận thức cảm tính là giai đoạn nhận thức đầu tiên, là mức độ nhận thức thấp nhất của con người. Nhận thức cảm tính mới chỉ phản ánh được. những thuộc tính bÈ ngoài của sự vặt, hiện tượng khi chúng đang trực iếp ác động đến chúng ta. Trong nhận thức cảm tính chai mức độ cảm giác và tỉ giác.
Trong đổ, cảm giác là hình thức phân ánh tâm lý khởi đầu, là hình thức định hướng đầu Liên của cơ hể trong thể giới. Cảm gic là hình thức phân ảnh thấp it, tì giác là ình thức phản ánh cao hơn ong cùng một bộc thang nhận thức cảm tính. Cảm giác và tr giác có mỗi quan hệ chất chẽ và chỉ phổi lẫn nhau rong mức độ nhân thúc “trực quan sinh động” về thể giới. "Nhận thức cảm tinh có vai trò quan trọng trong đời sống con người, nhưng, nó mới chỉ là sự phân ảnh trực iấp trong hiện ti, phân ánh bằng mắt thấy, ti nghệ, phân ánh thuộc tinh bŠ ngoài.
Vậy còn quá khứ và tương li như thể nào, thuộc tinh bên trong, thuộc tính chung của sự vật hiện tượng ra sao? Muốn biết được điều đồ con người phải có quá trình nhận thức cao hơn đồ là nhận thức lý tính, Nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng, trong đỏ con người phần ánh được các thuộc ính bản chất bên rong, những mỗi liên hệ và quan bệ có tính quy luật của các ‘Vat va hign tuong trong hiện thực khách quan. Trong thực iễn hoại động cũa cơn "người, tư duy và tưởng tượng có mỗi quan hệchặt chế, kết hợp và bổ sung cho nhau trong giải quyết một tình huồng có vấn đÈ. Khi ỉnh huống có vẫn đề chưa hoàn toàn sáng tỏ thiểu những thông tin cần thế, khó có thể dùng tư duy dể giải quyết được, thì tưởng tượng giúp tư duy “nhây cóc” qua một vài giai đoạn nào đồ. Tưởng tượng định hướng cho tư duy, đi trước vạch đường cho tư duy.
Ngược lại, nhờ tư duy mà tưởng tượng của con người mang tính khách quan, giảm bớt sự bắt hợp lý, thiễu chất chẽ vốn là những điểm yếu của tượng tượng Tai gi đoạn nhận thức nêu trên có mối quan hệ chặt chế với nhau và tác .động lẫn nhau. Dựa trên các dữ liệu cảm tính, con người thực hiện các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra những tính chất chủ xếu của đối tượng nhân thức và xây dựng thành những khái niệm. Như vậy, HĐNT không dừng lại ở sự phản ảnh và tái ạo hiện thực khách quan vio trong tr duy con người mà còn thục hiện các phếp suy luận để rit ra những kết luận mới trong thực tiễn, Nhờ thể mà tư duy luôn được sắng tạo, có thể của con người và vận dụng những hiế ệc cải tạo thể giới khách quan, phục vụ lợi ích của con người. Vil, Lenin di tong kết mi quan hệ này thành qui luật của hoạt động nhận thức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến tr duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhân thức hiện thực khách quan ”[I8, tr 8] 1.
Phân biệt HĐNT của nhà khoa học và HDNT cita HS: (18, tt 28) Trong quả trình dạy học, muốn thành công trong việc tổ chúc HĐNT' của HS phông theo HDNT của các nhà khoa học, chúng ta cần phải xem xết kỹ sự khác biệt giữa quá tình hoạt động của HS trong học tập và quả tỉnh sing tạo của các nhà Khoa học rong đó cần chú ý sự khác biệt rất lớn giữa HS và các nhà khoa học về đặc điềm tâm sinh lý cũng như điều kiện lâm việc. HĐNT của nhà khoa bọc chính là hình thái cao nhất của HĐNT, Đó là qua trình phản ánh tư giá, ích cực, sing tao hiện thực khách quan của con người thông qua thực tiễn, nhằm đạt tới hệ thống tr thức đúng din v8 t nhiền, xã hội và các lĩnh vực cụ thể khác, năng cao khả năng tư duy và hiệu quả hoại động thực tia eta con người. HDNT của nhà khoa học không chỉ có cẩu trúc phức tạp mà còn có những đặc trưng tiêng so với HĐNT thông thường, cụ thể ~ Tính Khách quan, thông qua một quá trình dược định hướng tư giác, ích cove, sing tao nhằm tiếp cân chân lý; ~ Tỉnh hệ thống, có luận cứ và sự sng to tr thức khoa học mới ~ Đồi hỏi yêu cầu cao về tink tin tượng hoá, khái quát hoá và cụ thể hoá. ~ Yêu cầu cao trong sử dụng ngôn ngữ, phương pháp và phương tiện.
= C6 mỗi lên hệ chất chẽ với thực tiễn và thực nghiệm, “Quá trình truyền đạt và nh hội ỉ thức của con người cho thể hệ sau được goi là quổ trình dạy học, mà trong thời đại ngày nay, quá tình dạy bọc không chỉ dũng lại ở việc cho và nhân kiến thức mà đã được năng ao trở thành quả trình tổ chức HĐNT cho HS. HĐNT của HS diễn ra tong môi trường sư phạm, có sự "hướng dẫn, tổ chức, điều khién cũa GV, Do vậy, nó không lập lại toàn bộ quá tình, nhận thức của tủ khoa học, do đ, trình được những bước đường quanh co, những si lầm trong nhận thức. Có thể tôm tắt sự giống và khác nhau khi quất giữa HDNT của nhà khoa học và HDNT của HS như sau “Giống nhau: + Ciing là hoạt động phán ánh thể gi khách quan vào ý thức của con người. Với tư cách là một thực thể xã hội có ý thức, con người có khả năng thu được những phản ánh khách quan về nội dung, chủ quan về hình thức (cùng một vẫn đề nhưng mỗi cá nhân nhân thức ở mức độ khác nhau, bình điện khác nhau.) -+ VỀ cơ bản, cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của loài người được phản ảnh trong công thúc nỗi tiếng của Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trữ tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng duy nhất của sự nhận thức chân ý, nhận thúc hiện thực khách quan”.
Những yếu tổ trực quan như các sự vật hiện tượng có thật, các mô hình, tranh ảnh, ngôn ngữ (nói và vi), sẽ được chủ thể (HS, nhà khoa học) xây đựng nên những biểu tượng về chúng ở trong đầu. Đây là những tải liệu cảm tính, là cơ sở để chủ thể tiến hành các hoạt đông nhận thức tiếp theo. Từ những tài u cảm tính này, nhờ các thao tắc tư duy, chủ thể nhận thức sẽ hình thành nên các kh: -+ Trong quá trình nhận thức, cả HS và nhà khoa học, muốn nhận thúc đẫy đủ “một vẫn để, một sự vật, hiện tượng trong th giới khách quan, cẳn phải huy động sắc thao tác tư duy (cảm gic, rỉ giác, tr duy, trởng tượng, phần đoán, suy lý. ở mức độ cao nhất.
Việc huy đông các thao tác tư duy cũng không theo một trình tự đơn thuần mà đó là một sự phối hợp sing tạo tủy thuộc vào mỗi cá nhân + KẾt quả nhận thức HS và của nhà khoa học đều có điểm chung là nó làm cho vin hiểu biết của chủ thể tăng lên. Sau mỗi một giai đoạn nhân thức, vẫn hiểu biết của chủ thể tăng lên nhờ sự tích lũy những tì thức, hình thành những kinh nghiệm mới trong quá trình nhận thức của mình Khác nhau: TDNT cia nhà Khoa học HDNT cia HS ~ Phải tìm ra cải mới, giải pháp mới mà [ = Tìm rã cái mới cho bản thân từ kiên thức trước đồ lo người chưa. | đã ủa nhân loại. HS tự "khám phá.
Điễn ra theo con đường mò mẫm, thử | lạ" các ki thức để tập làm công việc va sai khám phá đó trong hoạt động thực tiễn sau. ~ Có thời gian đầi để khám phá một | này, không phải mò mắm, thử và si kiến thức ~ Chỉ có thôi gian ắt ngẫn trn lớp ~ Cổ các thiết bị thí nghiệm, máy móc |~ Chỉ có những thiết bị đơn giản trong hiện di, diều kiện của trường phổ thông “Qua phân tích sự giống nhau và khác nhau trong HDNT của HS và nhà khoa học, ta có thể nhận thấy HĐNT cña HS là một quả tình vô cũng độc đáo, phức tạp dồi hỏi người GV phải có khả năng tổ chúc các HDNT một cách chủ động, lĩnh hoạt, sáng tao, phù hợp với từng đổi tượng HS, từng nội dung cần nhân thức và các phương, tiện hỗ ợ tổ chức HĐNT. nhằm đáp ứng được các yêu cầu giáo dục trong thôi đại mới phát huy ao độ vai wd tích cực, chủ độngở HS để giáp họ tự giấc tạo ra những thay đối tích cục và phát in hợp quy luật bên ong chính bản HS 1.