MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhân loại đang đứng trước những thay đổi mạnh mẽ với sự phát triển của xu thế toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc phát huy giá trị lịch sử đối với thế hệ trẻ lại càng có vai trò quan trọng đối với mỗi quốc gia. Vì vậy, công tác giáo dục được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm ở các cấp học với các hình thức học tập đa dạng, phong phú.
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành người học tích cực, tự tin, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh các tri thức và kĩ năng nền tảng, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Để thực hiện được mực tiêu đó, nghị quyết 29 của BCH TW Đảng về đổi mới giáo dục cũng xác định rõ, cần phải: “Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” và “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý 1 các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học” [3;tr12].
Chủ trương này đã tạo nên sự thay đổi trong tư duy truyền thống trong cách dạy và học của nhiều bộ môn, trong đó có môn Lịch sử. Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá, “thế giới phẳng” đang diễn ra mạnh mẽ việc bồi đắp lòng yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập dân tộc trong thế hệ trẻ cần được quan tâm. Môn Lịch sử là môn học có đặc thù riêng, đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc. Nhận thức được tầm quan trọng, vị trí của bộ môn này, những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học trong bộ môn lịch sử đã có sự thay đổi tích cực nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.
Tổ chức dạy học gắn liền với di sản văn hoá ngày càng được áp dụng rộng ở các cấp học, các loại hình trường học, thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng “học đi đôi với hành”, “nhà trường gắn liền với xã hội”. Di sản văn hóa luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền. Ngày nay, di sản văn hóa còn trở thành tài nguyên quý để phát triển du lịch ở mỗi địa phương. Tại Hội thảo “Chương trình giáo dục di sản trong nhà trường tại Việt Nam” diễn ra vào ngày 07/03/2012 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh: “Giáo dục di sản đã và đang từng bước trở thành yêu cầu, nhiệm vụ, động lực đối với các trường phổ thông, góp phần quan trọng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”.
Dạy học lịch sử gắn liền với di sản văn hoá tại địa phương là xu thế dạy học hiện đại. Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tư liệu học tập phong phú đa dạng này ở mỗi địa phương giúp mỗi học sinh vừa khơi dậy niềm tự hào với quê hương, vừa bồi đắp tinh thần yêu nước, khẳng định bản sắc dân tộc trước xu thế hội nhập. Với “thế đứng” của một tỉnh giàu truyền thống văn hiến, Nam Định xứng danh là vùng quê giàu trầm tích di sản văn hoá với 364 di tích được Nhà 2 nước xếp hạng, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 4 di sản văn hóa được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; 81 di tích quốc gia. Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động dạy học, trong đó đặc biệt là ngoại khoá lịch sử trong dạy học chương trình lớp 10 THPT chưa được chú trọng.
Điều này là môt sự “lãng phí” về khai thác tư liệu trong dạy học, chưa thực hiện hiệu quả về dạy học phát huy phẩm chất và năng lực người học. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tổ chức các hoạt động ngoại khoá lịch sử cho học sinh lớp 10 trường trung học phổ thông tỉnh Nam Định với di sản văn hoá tại địa phương” làm luận văn tốt nghệp. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Di sản văn hóa là một loại phương tiện trực quan vô giá, một nguồn tài liệu học tập quý hiếm trong dạy học các môn khoa học xã hội nói chung, môn Lịch sử nói riêng. Di sản văn hoá ở mỗi địa phương đều phản ánh hồn cốt của dân tộc ở từng mốc thời gian cụ thể.
Vì vậy, đây là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu từ rất sớm. Hiện nay, dạy học lịch sử với di sản văn hoá tại địa phương đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ các cấp, bộ, ngành, đáp ứng hiệu quả của PPDH tích cực, phù hợp với chương trình lịch sử mới. Trên cơ sở tìm hiểu có tính kế thừa các thành tựu đó, chúng tôi sẽ vận dụng phù hợp để giải quyết những vấn đề nghiên cứu trong luận văn của mình. Những công trình nghiên cứu về di sản văn hoá và di sản văn hoá tỉnh Nam Định 2.
Công trình nghiên cứu về di sản văn hoá nói chung Hội đồng di sản thế giới (WHC) của UNESCO đã được thành lập, tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện để công nhận các DSVH và thiên nhiên thế giới. WHC đề cao vai trò của giáo dục trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị DSVH thông qua nhiều dự án, chương trình đầu tư vào giáo dục nhằm nâng cao ý thức của công dân toàn cầu về DSVH. Các công bố 3 khoa học của các tác giả trên các tạp chí, hội thảo quốc tế, như bài báo “Toward a new era for Cultural Heritage Education: Dissusing the role of ICT” (Hướng tới một kỉ nguyên mới cho giáo dục di sản văn hoá: thảo luận về vai trò của CNTT), của các tác giả Michela Ott, Francesca Pozzi (Computers in Human Behavior 27- 2011). Bài báo này nghiên cứu các công cụ công nghệ thông tin vào việc tăng cường giáo dục DSVH.
Tác giả Nguyễn Đăng Duy- Trịnh Minh Đức trong cuốn “ Bảo tồn di tích lịch sử văn hoá”, NXB Đại học Văn hoá Hà Nội, 1993, đã khẳn định tầm quan trọng của di sản văn hoá coi đó là bộ mặt quá khứ của một dân tộc. Đồng thời nhấn mạnh việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhận đinh trên là cơ sở quan trọng để chúng tôi khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng DSVH trong DHLS ở trường phổ thông, đặc biệt là tổ chức hoạt động ngoại khoá lịch sử cho HS. Cuốn sách “Con đường tiếp cận di sản văn hoá Việt Nam” của nhiều tác giả, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2014, gồm 4 phần.
Trong đó, các tác giả dành phần 1 đề cập vấn đề chung về DSVH, phần còn lại nghiên cứu sâu về DSVH phi vật thể, văn vật thể và bảo tàng. Công trình đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Đây là những gợi ý quý báu để luận văn vận dụng linh hoạt trong quá trình xác định những biện pháp sử dụng DSVH ở Nam Định trong DHLS ở trường THPT. Cuốn “Di sản văn hoá trong xã hội Việt Nam đương đại” của nhiều tác giả (NXB Thế giới, 2014), khẳng định DSVH là sợi dây kết nối giữa hiện tại với quá khứ lịch sử, với tác động của xã hội đương đại đã có sự vận động nhất định.
Vì vậy, cần có cách tiếp cận đa chiều để phát huy giá trị DSVH. Cuốn sách có đóng góp thiết thực về thực tiễn và lí luận cho đề tài luận văn. Công trình nghiên cứu về DSVH tỉnh Nam Định Cuốn “Một số di tích lịch sử- văn hoá Việt Nam”, tác giả Đinh Ngọc Bảo (chủ biên), NXB Đại học Sư phạm, 2012, các tác giả đã hệ thống các di 4 tích lịch sử văn hoá theo tỉnh. Trong phần viết về di tích lịch sử tỉnh Nam Định, các tác giả đã lựa chọn một số di tích như: Đền Trần, Tháp Phổ Minh, đền Bảo Lộc.
Mỗi di tích đều được giới thiệu khái quát về vị trí địa lí, giá trị lịch sử, văn hoá. Đó là gợi ý giúp chúng tôi lựa chọn DSVH vào DHLS. Cuốn “Trăm năm phở Việt”, Trịnh Quang Dũng, Trịnh Quang Long, NXB Phụ Nữ, 2014, đã giới thiệu về các món phở từng vùng miền. Riêng món phở Nam Định có hương vị riêng, trở nên nổi tiếng.
Cuốn sách giúp chúng tôi có thêm nguồn tư liệu quý giá, độc đáo về DSVH để tổ chức NKLS cới DSVH tại địa phương cho HS tỉnh Nam Định. Một số tạp chí về di sản văn hóa, các công trình nghiên cứu, các tài liệu hội thảo khoa học với các bài viết tiêu biểu như: “Bảo tàng với việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7 – 2004 của tác giả Phạm Chí Bền, “Lễ hội truyền thống ở Nam Định” Tạp chí Di sản văn hóa, số 9 - 2004, đã giới thiệu những nét tiêu biểu về các lễ hội của tỉnh, như: lễ hội khai ấn đền Trần, lễ hội Phủ Dầy.