MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại 4.0, cùng với năng lực hợp tác (Collaboration), tư duy độc lập (Critical Thinking) và sáng tạo (Creativity), năng lực giao tiếp (Communication) được coi là một trong bốn năng lực trụ cột cần có của công dân thế kỉ XXI được Diễn đàn kinh tế thế giới 2017 tổ chức tại Hà Nội (Việt Nam) đề xuất, nhấn mạnh. Điều này có ý nghĩa lớn trong định hướng mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục phổ thông của mỗi quốc gia nói riêng. Trong đó, năng lực giao tiếp có mối liên hệ mật thiết với ba trụ cột năng lực còn lại: Giao tiếp là cơ sở, là phương tiện chính của hợp tác; giao tiếp là một trong những phương tiện chính để thuyết minh và thể hiện tư duy độc lập, sáng tạo của HS.
Về hình thức, cấu trúc năng lực giao tiếp của HS gồm giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ gắn với các tình huống học tập cụ thể. Do vậy, hình thành và phát triển khả năng thuyết trình của HS được coi là nền tảng quan trọng để góp phần hình thành, phát triển năng lực giao tiếp của mỗi cá nhân HS. Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể (2018) nhấn mạnh: “Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”[2; tr. Theo đó, không riêng gì môn Tiếng Việt, Ngữ văn, tiếng dân tộc thiểu số hay ngoại ngữ, các môn học, hoạt động giáo dục thuộc lĩnh vực tự nhiên, xã hội cần khai thác đặc trưng của môn học, lĩnh vực giáo dục để góp phần hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho HS nói chung, năng lực TT cho HS nói riêng.
Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử và Địa lí (cấp trung học cơ sở, 2018) đã chính thức thực hiện từ năm học 2021-2022 đối với lớp 6. Trong đó, chương trình có những định hướng cụ thể để hình thành và phát triển năng lực TT – giao tiếp của HS nói riêng. Trong mục tiêu, yêu cầu cần 1 đạt, Chương trình nhấn mạnh các năng lực đặc thù của học tập Lịch sử bằng nhiều động từ có nội hàm liên quan đến vấn đề hình thành, phát triển khả năng TT của HS như: “mô tả”, “trình bày”, “phân tích”, “giải thích”, “lập luận”, “nhận xét”,… về các sự kiện, hiện tượng, nhân vật. Về phương pháp, Chương trình nhấn mạnh đổi mới dạy học Lịch sử theo hướng tạo điều kiện để HS trở thành “người đóng vai lịch sử”, hay “người làm lịch sử” [2; tr.
Đặc biệt, Chương trình nhấn mạnh “đa dạng hóa các hình thức đánh giá, tăng cường đánh giá đối với tất cả HS bằng các hình thức khác nhau” qua “báo cáo kết quả thực hiện dự án học tập, báo cáo kết quả thực hành, bài TT về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập” [2; tr. Những điểm nổi bật này chứng tỏ, Chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử và Địa lí (cấp trung học cơ sở, 2018) đã định hướng được các yêu cầu có tính “pháp lệnh” theo tiếp cận hình thành và phát triển năng lực HS nói chung, hình thành và phát triển khả năng TT – giao tiếp của HS nói riêng trong học tập môn Lịch sử và Địa lí ở trường THCS. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển giao sang tiếp cận dạy học phát triển năng lực, việc dạy và học LS ở trường phổ thông nói chung, trường THCS tại Việt Nam nói riêng vẫn còn những dấu vết nặng nề của lối dạy học truyền thụ nội dung một chiều từ phía GV, HS ít có cơ hội bộc lộ, thể hiện các khả năng học tập của bản thân,… Đặc biệt, đối với nhóm HS dân tộc thiểu số vùng miền núi, những dấu ấn của mô hình dạy học theo tiếp cận nội dung càng sâu đậm. Tuyên Quang nói chung, huyện Hàm Yên nói riêng là địa bàn có số lượng HS người dân tộc chiếm đa số.
Năm học 2021 – 2022, riêng HS lớp 6 trong toàn huyện là 2.290 HS (59 lớp), số HS dân tộc thiếu số là 1.375 HS, chiếm tỉ lệ 60%. Do ảnh hưởng của điều kiện sống, môi trường giao tiếp (phạm vi, đối tượng giao tiếp hạn hẹp, chủ yếu là giữa các thành viên trong 2 gia đình, thôn bản bằng tiếng dân tộc…), khả năng TT bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt) của tuyệt đại đa số nhóm HS này còn rất hạn chế. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu bức thiết đối với dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử và Địa lí là cần tận dụng điều kiện, tập trung thời gian để thiết kế các hoạt động hình thành và phát triển năng lực HS, trước hết là năng lực TT – giao tiếp một cách thiết thực, hiệu quả. Trong đó, đối với cấp THCS, cần thiết phải bắt đầu từ nhóm HS khối lớp 6 nhằm xây dựng nền tảng cho toàn cấp học.
Phần lịch sử Việt Nam lớp 6 có ưu thế hình thành và phát triển khả năng TT của HS vì gắn với các nội dung gần gũi với HS như: HS có thể TT về tổ chức nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, mô tả được đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang - Âu Lạc, mô tả được sự thành lập, quá trình phát triển của vương quốc Champa - Phù Nam, trình bày được những nét chính (nội dung, kết quả) về các cuộc vận động giành quyền tự chủ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của họ Khúc và họ Dương hoặc có thể mô tả được những nét chính trận chiến Bạch Đằng lịch sử năm 938 và những điểm độc đáo trong tổ chức đánh giặc của Ngô Quyền… Đây là một trong những nội dung mà HS cần đạt được trong chương trình môn học lịch sử 6 mà Bộ Giáo Dục đào tạo quy định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hình thành và phát triển khả năng thuyết trình cho học sinh dân tộc thiểu số trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 6 ở trường trung học cơ sở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn thạc sĩ. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Phát triển các năng lực (NL) nói chung và khả năng thuyết trình (KNTT) nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn, tôi đã tiếp cận một số công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây.
Nghiên cứu đề cập đến vấn đề thuyết trình và năng lực thuyết trình * Nghiên cứu của tác giả nước ngoài Vấn đề năng lực TT cũng đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu, tác giả Steve Mandel với cuốn sách “Effective Presentation Skills: A Practical Guide for Better Speaking – Kỹ năng thuyết trình hiệu quả: Hướng dẫn thực hành để nói tốt hơn” (Nxb Crisp Learning, 2000) giải thích các nguyên tắc cơ bản về cách phát triển và đưa ra một bài TT hiệu quả. Trong đó, người TT sẽ học cách tổ chức một bài phát biểu, tạo và sử dụng các phương tiện trực quan hỗ trợ trong bài TT. Sách “Bí quyết để thành công trong hùng biện, đàm phán và thuyết trình” (Nxb Thời Đại, 2010) của tác giả Đổng Quân hướng dẫn cách nói và diễn thuyết. Cuốn sách đề cập đến một số vấn đề mà nhiều người trong chúng ta đều quan tâm: Làm thế nào mới có thể tăng cường được tài thuyết trình, hùng biện, đàm phán.
Cuốn “Thật Đơn Giản – Thuyết Trình” (Nxb Lao động – Xã hội, 2013) tác giả Richard Hall đã giúp mọi người yêu thích hơn việc TT. Trong cuốn sách này, tác giả Richard Hall hướng dẫn chi tiết từng công đoạn của việc TT như hoàn cảnh, lập kế hoạch, viết nội dung thu hút, sử dụng các kỹ xảo để tăng độ thu hút của người nghe như âm thanh, màu sắc… Thêm vào đó là những chỉ dẫn giúp mọi người đối mặt với sự sợ hãi, hiểu được người nghe và cách thu hút họ. Cuốn sách “Kỹ năng thuyết trình và gây ảnh hưởng” (Nxb Phụ nữ, 2018) tác giả Yaniv Zaid dựa trên phương pháp "Debate" nổi tiếng trên thế giới đã đề cập đến tất cả các nội dung tạo nên học thuyết về trò chuyện trước công chúng: Xây dựng bài phát biểu, diện mạo, tư thế và ngôn ngữ cơ thể, ở đầu bài thuyết trình, thu hút sự chú ý kể cả trong những nội dung khó, kết hợp yếu tố hài hước và các câu chuyện cá nhân, thích nghi với đối tượng khán giả, lặp đi lặp lại thông điệp, lý luận thuyết phục, ý thức về thời gian và tốc độ. 4 Dale Carnegie trong cuốn sách “Nghệ thuật nói trước công chúng” (Nxb Dân Trí, 2019) đã viết về các phương pháp giao tiếp, diễn thuyết.
Trong cuốn sách này, Dale Carnegie chỉ cho mọi người cách làm thế nào để: Phát huy tính tự chủ, lấy lại tự tin, tăng cường trí nhớ, bắt đầu và kết thúc một bài nói, hấp dẫn và lôi cuốn người nghe, hoàn thiện phong cách diễn đạt. Trong cuốn sách “Kỹ năng thuyết trình chuyên nghiệp” (Nxb Công Thương, 2019) của tác giả Laura Sicola đã giúp chúng ta xác định điểm mù trong giao tiếp (khoảng cách giữa điều chúng ta muốn được mọi người cảm nhận khi nói và cách chúng ta thực sự thể hiện), điều này cản trở chúng ta đạt được mục tiêu như thế nào. Thứ hai, tác giả giúp chúng ta khám phá những phương pháp sử dụng giọng nói nhằm thu hút người nghe. Thứ ba, Sicola đã giúp chúng ta học cách điều chỉnh phong cách nói để chúng ta thể hiện được dáng vẻ lãnh đạo chân thực nhất khi tiếp cận với mọi đối tượng.
Thứ tư, chúng ta có thể vượt qua rào cản tinh thần để nói một cách tự tin và hấp dẫn. Cuối cùng, tác giả đưa ra cách thực hành kể chuyện lôi cuốn, đưa dữ liệu cuộc sống vào bài TT. Như vậy, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến những cách để TT hiệu quả, hướng dẫn các bước để xây dựng bài TT và cách sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữ hình thể khi TT. Các tài liệu trên chưa đề cấp đến việc hình thành và phát triển khả năng TT cho đối tượng là HS, đặc biệt là HS dân tộc thiểu số.
Từ những cơ sở tạo cơ sở lí luận để chúng tôi nghiên cứu và đưa ra những biện phát hình thành và phát triển năng lực TT cho HS, mà trong đó đối tượng nghiên cứu là HS người DTTS.