Một số biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề tài một số biện pháp cải thiện kết quả việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ giáo dục học

2011

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11 là một phương pháp dạy học hiện đại, giúp học sinh phát triển kỹ năng hợp tác và tư duy phản biện. Hoạt động nhóm không chỉ tạo ra môi trường học tập tích cực mà còn khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động. Theo nghiên cứu, việc tổ chức hoạt động nhóm có thể nâng cao hiệu quả dạy học thông qua việc khuyến khích sự tương tác giữa các học sinh. Học sinh có thể học hỏi lẫn nhau, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, từ đó phát triển kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao trong dạy học hóa học, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ giáo viên về nội dung và phương pháp tổ chức. Việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động nhóm phù hợp với nội dung bài học và điều kiện thực tế là rất quan trọng.

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt động nhóm đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới. Các nhà nghiên cứu như John Dewey và Kurt Lewin đã chỉ ra rằng việc học tập thông qua hoạt động nhóm giúp học sinh phát triển kỹ năng xã hội và tư duy phản biện. Hình thức dạy học hợp tác đã được áp dụng thành công tại nhiều trường học, cho thấy sự cần thiết của việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc áp dụng phương pháp dạy học này vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong môn hóa học. Các giáo viên cần được bồi dưỡng về kỹ năng tổ chức hoạt động nhóm để nâng cao hiệu quả dạy học.

II. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm

Để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11, cần áp dụng một số biện pháp cụ thể. Đầu tiên, việc lựa chọn nội dung phù hợp cho hoạt động nhóm là rất quan trọng. Nội dung cần phải gắn liền với thực tiễn và phù hợp với khả năng của học sinh. Thứ hai, giáo viên cần thiết kế các phiếu học tập và phiếu ghi bài để hỗ trợ học sinh trong quá trình làm việc nhóm. Điều này không chỉ giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức mà còn tạo ra sự hứng thú trong học tập. Thứ ba, bồi dưỡng năng lực tổ chức cho các nhóm trưởng cũng là một yếu tố quan trọng. Nhóm trưởng cần có khả năng lãnh đạo và điều phối hoạt động của nhóm để đảm bảo mọi thành viên đều tham gia tích cực.

2.1. Lựa chọn nội dung và hình thức hoạt động nhóm

Nội dung bài học cần được lựa chọn sao cho phù hợp với khả năng và nhu cầu của học sinh. Đối với những nội dung khó, giáo viên có thể chia nhỏ thành các phần để học sinh dễ dàng tiếp cận. Hình thức tổ chức hoạt động nhóm cũng cần đa dạng, từ thảo luận nhóm đến các trò chơi học tập. Việc tổ chức hoạt động nhóm ngoài lớp học cũng là một cách hiệu quả để học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về bài học mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm và khả năng giải quyết vấn đề.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là một phần quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động nhóm. Qua thực nghiệm, giáo viên có thể thu thập dữ liệu về thái độ của học sinh đối với hoạt động nhóm và mức độ tiếp thu kiến thức. Kết quả thực nghiệm cho thấy, khi học sinh tham gia vào hoạt động nhóm, họ có xu hướng tích cực hơn trong việc học tập. Học sinh không chỉ học hỏi từ giáo viên mà còn từ bạn bè, từ đó nâng cao khả năng tư duy và sáng tạo. Việc đánh giá kết quả thực nghiệm cũng giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn với nhu cầu của học sinh.

3.1. Kết quả thực nghiệm và bài học kinh nghiệm

Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hoạt động nhóm có tác động tích cực đến việc học tập của học sinh. Học sinh thể hiện sự hứng thú và chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không phải tất cả học sinh đều có khả năng làm việc nhóm tốt. Một số học sinh có thể gặp khó khăn trong việc giao tiếp và hợp tác. Do đó, giáo viên cần có những biện pháp hỗ trợ kịp thời để giúp học sinh vượt qua những khó khăn này. Bài học kinh nghiệm từ thực nghiệm sư phạm cho thấy rằng việc tổ chức hoạt động nhóm cần được thực hiện một cách linh hoạt và sáng tạo để đạt được hiệu quả dạy học cao nhất.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học đề tài một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11 ở trường thpt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về hoạt động nhóm trên thế giới Trong thời đại ngày nay nhu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết. Đơn giản vì không ai là hoàn hảo, làm việc theo nhóm sẽ tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung cho nhau.

Từ những năm đầu thế kỉ 20, dạy học tương tác bằng hoạt động nhóm được nhiều nhà khoa học quan tâm. Dựa trên ý tưởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đích cuối cùng John Amos Comenius (1592-1670) đưa ý tưởng này vào lớp học và cho rằng HS sẽ học được nhiều hơn từ cách thức học tập như thế. Ý tưởng này cũng được xây dựng, phát triển và sử dụng rộng rãi tại Anh vào những năm cuối của thập niên 70 do Joseph Lancaster và Andrew Bell áp dụng. Năm 1806, quan niệm hợp tác đã được sử dụng và phát triển rất nhanh ở Mỹ với mục đích làm giảm tính cạnh tranh trong trường học.

Một trong những người đầu tiên đã rất thành công khi chủ trương đưa ý tưởng hợp tác vào lớp học và được nhiều giới quan chức tham khảo học tập là Colonel Francis Parker. Ông không tin sự cạnh tranh trong trường học sẽ đạt được hiệu quả cao hơn so với sự chia sẻ suy nghĩ thông tin về vấn đề học tập ở học sinh (Marr, 1997; Johnson và Johnson, 1994). Các phương pháp của Parker đều liên quan đến việc làm cách nào học sinh có thể hợp tác với nhau trong học tập (cooperatively learning). Người có cùng tư tưởng với Colonel Francis Parker là James Coleman (1959), ông đề xuất: thay việc thiết lập các tình huống khuyến khích cạnh tranh trong học tập nhà giáo dục nên tạo ra các hoạt động để HS cùng nhau hợp tác (trích dẫn từ www.org/lp/pages/4653).

John Dewey, nhà giáo dục theo xu hướng thực dụng Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế dạy học hợp tác vào đầu những năm 1900. Ông cho rằng: trẻ em học được nhiều điều thông qua giao tiếp, học tập sẽ hứng thú hơn đối với trẻ khi được tham gia các hoạt động và rút ra kinh nghiệm cho mình. Chính John Dewey đã đưa các hình thức hoạt động hợp tác học tập vào lớp học nhằm dạy cho con người cùng sống, cùng làm việc với nhau. Người thứ hai có ảnh hưởng lớn đến việc dạy học hợp tác theo nhóm là nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin (Đức – Mỹ).

Bài báo “Cooperative learning: An overview from Psychological and cultural perspective” của tài liệu hội thảo “Về đào tạo giáo viên và phương pháp dạy học hiện đại”, viện Nghiên cứu Sư phạm Hà Nội (2007) đã viết [57, tr.1]: Kurt Lewin – nhà khoa học được coi là cha đẻ của tâm lý học xã hội. Ông là người có ảnh hưởng chính đến sự hình thành và phát triển của trào lưu “Tương tác nhóm” vào đầu những năm 1940. Ông đề ra “thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội” hay còn gọi là “thuyết tương tác xã hội” dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, người đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các TV”. Trong thập niên 1920 – 1930, Kurt Lewin đã đưa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố: 1) Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các TV, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các TV; 2) Tình trạng căng thẳng giữa các TV trong nhóm là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu.

Sau đó, Morton Deutsch tiếp tục xây dựng và mở rộng lí luận về sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội nhằm hoàn thiện lý thyết hoạt động nhóm, ông xây dựng một lí thuyết về hợp tác và cạnh tranh. Lí thuyết của Morton Deutsch được mở rộng và áp dụng cho giáo dục, đặc biệt là các vận dụng của chính tác giả tại trường Đại học Minnesota. Ngoài ra còn có một số nhà tâm lí và giáo dục học như: Aronson, hai anh em nhà Johnson. Đặc biệt là Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw được sử dụng đầu tiên ở Austin Texas vào năm 1971.

Jigsaw dựa trên nhu cầu thiết yếu lúc bấy giờ: giảm sự căng thẳng xung đột sắc tộc giữa các HS khác màu da và loại bỏ cạnh tranh cá nhân trong lớp học, mô hình này yêu cầu các HS phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất. Jigsaw đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức tổ chức hoạt động hợp tác theo nhóm trong dạy học. Năm 1989, hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu 193 trường hợp và nhận thấy: học hợp tác theo nhóm thì HS học hỏi được nhiều hơn so với cách học truyền thống. Robert Slavin, Kagan, Sholmo, Sharan cũng đã chứng minh được tính hiệu quả của PPDH theo hướng tạo cơ hội cho HS hợp tác trong việc hình thành các kĩ năng xã hội, phát triển tư duy nhận thức và khả năng hòa nhập với thế giới xung quanh.

Ngoài ra phải kể đến nghiên cứu của Astin với 200 trường Cao đẳng – Đại học về sự tương tác giữa người học và người học, giữa người dạy và người học là cơ sở để phát huy tính tích cực, khả năng giao tiếp, tư duy, các hành vi xã hội khác ở người học. Vào năm 1996, lần đầu tiên PPDH hợp tác chính thức được áp dụng trong một số trường Đại học ở Mỹ, và hội nghị nghiên cứu vấn đề học hợp tác lần đầu được tổ chức tại Minneapolis (lấy từ www.edu/coop_learning/ch3/default. Trong 30 năm gần đây các luận án, luận văn, bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này rất nhiều và đa dạng, thậm chí còn có một số website đào tạo GV trực tuyến về vấn đề học hợp tác hay giới thiệu các cấu trúc hoạt động học hợp tác: www.com;…Có thể tham khảo một số nghiên cứu như: • 1900s: John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky. • 1960 - 1961: Stuart Cook: Nghiên cứu về hợp tác (Research on cooperation); Madsen (Kagan): Nghiên cứu về hợp tác và cạnh tranh ở trẻ (Research on cooperation & competition in children); Bruner, Suchman: Khám phá về học tập bằng hoạt động (Inquiry Learning Movement); B.

Skinner: Lập trình học tập, sự thay đổi hành vi (Programmed learning, behavior modification). • 1966: David Johnson, U of MN: Đào tạo giáo viên dạy học hợp tác (Begins training teachers in Cooperative Learning). • 1970: David Johnson: Tâm lý xã hội trong giáo dục (Social Psychology of Education). • 1973: David DeVries & Keith Edwards: Dạy học kết hợp giữa trò chơi và sự cạnh tranh giữa các nhóm (Combined instructional games approach with intergroup competition, teams-games-tournament).

• 1974-1975: David & Roger Johnson: Nghiên cứu về sự hợp tác và cạnh tranh (Research review on cooperation & competition); David & Roger Johnson: Học tập tập thể và cá nhân (Learning Together and Alone). • 1975: Annual Symposium at APA (David DeVries & Keith Edwards, David & Roger Johnson, Stuart Cook, Elliot Aronson, Elizabeth Cohen, others); Robert Slavin: Chương trình phát triển DHHT (Begins development of cooperative curricula); Spencer Kagan: Hoạt động hợp tác ở trẻ (Continued research on cooperation among children). • 1976: Shlomo &Yael Sharan: Dạy học nhóm nhỏ (Small Group Teaching). • 1978: Elliot Aronson: Lớp học ghép hình (Jigsaw Classroom), Journal of Research & Development in Education, CooperationIssue); JeanneGibbs: Nhóm(Tribes).

• 1981, 1983: David & Roger Johnson: Phân tích tổng hợp các nghiên cứu về dạy học hợp tác (Meta-analyses of research on cooperation). • 1985: Elizabeth Cohen: Thiết kế nhóm làm việc (Designing Groupwork); Spencer Kagan: Phát triển cấu trúc dạy học hợp tác (Developed structures approach to cooperative learning). • 1989: David & Roger Johnson: Hợp tác và cạnh tranh (Cooperation & Competition-Theory & Research). • 1996: Hội thảo “Vai trò lãnh đạo trong học tập hợp tác" (First Annual Cooperative Learning Leadership Conference), Minneapolis Như vậy PPDH hợp tác theo nhóm được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn bởi nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và tâm lí học, nhưng nhìn chung đều được xây dựng trên cơ sở của ba quan điểm: 1) Quan điểm phát triển nhận thức;2) Quan điểm về hành vi; 3) Sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội.

Nhận xét: qua việc tìm hiểu cơ sở lí luận của hình thức dạy học bằng hoạt động nhóm, quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng DHHT theo nhóm chúng ta có thể nhận rõ tính hiệu quả và tính khả thi cao khi áp dụng hình thức dạy học này vào trong giáo dục ở một số nước trên thế giới cũng như giáo dục ở Việt Nam với mọi cấp học. Một số bài viết về dạy học hợp tác theo nhóm ở nước ta Trong những năm gần đây có nhiều bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này ở nước ta, có thể kể đến: • “Mô hình PPDH theo nhóm nhỏ” và “Nhóm nhỏ và việc tổ chức cho học sinh theo các nhóm nhỏ” cùng của tác giả Trần Duy Hưng (Tạp chí giáo dục, số 4/2000 và số 7/1999). • “Về phương pháp học tập nhóm” của tác giả Trần Thị Thu Mai (Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 12/2000). • “Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam (Tạp chí giáo dục, số 3/2002).

• “Một số vấn đề lí luận về kĩ năng học theo nhóm của học sinh” của tác giả Ngô Thị Thu Dung (Tạp chí giáo dục, số 4/2002). • “Một số vấn đề cơ sở lí luận học hợp tác nhóm” của tác giả Lê Văn Tạc (Tạp chí giáo dục, số 9/2002). • “Phương pháp nhóm chuyên gia trong dạy học hợp tác” của tác giả Nguyễn Văn Hiền (Tạp chí giáo dục, số 4/2003). • “Áp dụng dạy học hợp tác trong dạy học Toán ở tiểu học” của hai tác giả Trần Ngọc Lan - Vũ Minh Hằng (Tạp chí giáo dục, số 125/2005).

• “Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh THPT thông qua hình thức tổ chức học tập theo nhóm tại lớp” của tác giả Nguyễn Thị Huỳnh Hương (Tạp chí giáo dục, số 186/2008). • Gần đây nhất là bài viết “Dạy học hợp tác – một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI”, của PGS. Trịnh Văn Biều đăng trên tạp chí khoa học, số 25, năm 2011 – trường ĐHSP TP. Nhận xét: các bài viết trên giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của PPDH hợp tác trên thế giới, đồng thời cũng cung cấp những thông tin, kinh nghiệm khi sử dụng hình thức hoạt động nhóm trong dạy học, giúp cho những ai quan tâm đến hình thức tổ chức dạy học hợp tác theo nhóm dễ định hướng và thành công khi áp dụng vào giảng dạy thực tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hóa học lớp 11" tập trung vào việc cải thiện phương pháp dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động nhóm. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy phản biện. Bài viết cung cấp những chiến lược cụ thể để giáo viên có thể áp dụng trong lớp học, giúp nâng cao sự hứng thú và hiệu quả học tập của học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo bài viết "Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học", nơi trình bày cách tiếp cận tương tự trong môn toán. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh" cũng cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả có thể áp dụng cho các môn học khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Dạy học chủ đề tam giác đồng dạng cho học sinh lớp 8", một ví dụ khác về việc phát triển năng lực tư duy trong dạy học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giảng dạy hiện đại.