Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO TIẾP CẬN CÙNG THAM GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm theo tiếp cận cùng tham gia trên thế giới Tư tưởng về học qua TN được phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử, thể hiện trong những quan điểm về GD như quan điểm của nhà GD kiệt xuất người Séc, J. Ông cho rằng “dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, GD thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp, ngoài thiên nhiên” (Dẫn theo [7, tr.
Crupxcaia (1869 - 1939) nhà Tâm lý học, GD học Xô Viết quan tâm đến GD ở mọi mặt: Đức, trí, thể, mỹ, quân sự và GD lao động, GD kỷ luật tổng hợp. Bà cũng cho rằng phải tăng cường các hình thức “GD qua các hình thức hoạt động tập thể, như tham quan du lịch, cắm trại, lao động hè ở các nông lâm trường kết hợp với sinh hoạt văn hóa nghệ thuật” (Dẫn theo [23, tr. Tư tưởng về học tập TN còn được nhiều nhà GD học, nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng này được cụ thể hóa vào quá trình tổ chức dạy học TN.
Để tổ chức HĐTN, các nhà nghiên cứu khác nhau đã đề xuất những mô hình học tập TN khác nhau. Có thể kể đến các mô hình như: mô hình học tập và phát triển nhận thức của Jean Piaget, mô hình học tập TN về nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm của Kurt Lewin. Kolb, nhà lý luận GD xuất sắc người Mỹ, người sáng lập và chủ tịch của hệ thống “Học tập dựa trên kinh nghiệm” đã xây dựng lý thuyết học tập qua TN trên cơ sở kế thừa các lý thuyết của John Dewey, Kurt Lewin, J. Vygotxki và các nhà tâm lí học khác.
xây dựng lý thuyết về học từ TN (Experiential learning). Ông cho rằng “học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình TN” [37]. 5 Ông cũng khẳng định: “học tập TN có thể được định nghĩa là một quá trình học tập mà kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa việc nắm bắt và biến đổi một kinh nghiệm”. “Kolb cho rằng việc học đòi hỏi phải tiếp thu các khái niệm trừu tượng để sau đó có thể áp dụng linh hoạt trong nhiều tình huống.
Do đó, kiến thức được tạo ra thông qua sự biến đổi của kinh nghiệm" (Dẫn theo [35]). Kolb cũng đã đề xuất mô hình học tập TN gồm 4 bước “Bước 1: Người học có thể đã đọc một số tài liệu, tham dự bài giảng, xem một số video trên Internet về chủ đề đang học tập,. Tất các các yếu tố đó sẽ tạo ra các kinh nghiệm rời rạc nhất định cho người học. Bước 2: Người học cần có các phân tích, ĐG các sự kiện và các kinh nghiệm đã có.
Sự ĐG này cần mang yếu tố “phản tỉnh”, tức là tự mình suy tưởng về các kinh nghiệm rời rạc đã có theo một cách tự nhiên và tự thân, rút ra được các bài học liên quan tới vấn đề cần tìm hiểu. Bước 3: Sau khi có được quan sát chi tiết cộng với suy tưởng sâu sắc, người học tiến hành khái niệm hóa các kinh nghiệm đã nhận được. Bước 4: Người học đã rút kinh nghiệm từ thực tiễn với các luận cứ và suy luận được liên kết chặt chẽ, sau đó vận dụng những kinh nghiệm đó vào thực tiễn để xác nhận hoặc phủ nhận các khái niệm từ bước trước” (Dẫn theo [16, tr.17-21]) John Dewey, nhà khoa học GD nổi tiếng người Mỹ trong tác phẩm Kinh nghiệm và GD (Experience and Education) đã nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm trong GD. Dewey chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa GD giúp nâng cao hiệu quả GD bằng cách “kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn” [36].
Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI một số quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu và xây dựng chương trình về HĐTN. UNESCO cũng đã tiến hành nhiều dự án ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm vào các vấn đề khác liên quan đến HĐTN. Những nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm ở trường tiểu học theo tiếp cận cùng tham gia ở Việt Nam Ngay từ những ngày đầu thành lập nhà nước, Hồ Chí Minh đã khẳng định nhiệm vụ của nền GD là “phải phục tùng đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế” [13, tr.
Theo Hồ Chí Minh "trong việc GD và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ XH chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất" [14, tr. 647], "Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy" [12, tr. Chỉ có “học đi đôi với hành” thì người học mới được rèn luyện cả tri thức lẫn KN thực hành, mới gắn liền được tri thức với thực tiễn XH, với lao động sản xuất phong phú.
Dưới tác động của những biến đổi của đời sống XH và xu hướng đổi mới GD trên thế giới, những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta chú trọng đến việc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT. Quan điểm này được cụ thể hóa trong việc đổi mới GD ở mỗi câp học, mỗi ngành học. Đối với GD phổ thông, để tăng cường gắn lý thuyết với thực hành, Bộ GD&ĐT cũng đã tổ chức các hoạt động nghiên cứu, chia sẻ, trao đổi, thảo luận về HĐTN. Từ phía các nhà nghiên cứu, nhà GD học, HĐTN và tổ chức HĐTN trong nhà trường là vấn đề được quan tâm từ trước khi HĐTN trở thành hoạt động GD bắt buộc trong nhà trường như hiện nay.
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa và các cộng sự trong các cuốn “TN sáng tạo, hoạt động quan trọng trong CTGDPT mới”[25], “Hướng dẫn tổ chức HĐTN (TH)” [27], “PP tổ chức HĐTN trong trường TH - lớp 1,2,3” [26] đã trình bày những vấn đề cơ bản về HĐTN trong CTGDPT 2018, đồng thời làm rõ những vấn đề về tổ chức HĐTN ở trường TH. Đây là những tài liệu có ý nghĩa định hướng đối với đội ngũ CBQL, GV các trường TH trong công tác tổ chức HĐTN ở nhà trường. 7 Tác giả Nguyễn Thị Liên trong cuốn “Tổ chức HĐTN sáng tạo” [17] đã trình bày cơ sở khoa học về HĐTN sáng tạo, một số vấn đề về “tổ chức HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông và hướng dẫn thiết kế HĐTN sáng tạo”. Tác giả Lê Phương Liên, Nguyễn Yến Oanh đã nghiên cứu và biên soạn cuốn “Tổ chức HĐTN cho HS TH” [18] nhằm giúp GV hiểu rõ tầm quan trọng và nhiệm vụ của HĐTN ở trường TH, nắm bắt được quy trình, cách thức tổ chức HĐTN trong và ngoài nhà trường, đồng thời hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch tổ chức HĐTN, gợi ý một số trò chơi tổ chức trong HĐTN,.
Trên các tạp chí, có nhiều bài viết nghiên cứu về HĐTN và tổ chức HĐTN ở bậc TH như: Tác giả Huỳnh Mộng Tuyền và các cộng sự trong bài viết “HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS TH tỉnh Kiên Giang” [31; 9-14] đã nghiên cứu, khảo sát và ĐG thực trạng “HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS TH tỉnh Kiên Giang”, từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS TH tỉnh Kiên Giang như:” Nâng cao NL GD lịch sử địa phương thông qua HĐTN cho GV TH; Xác định chuẩn NL lịch sử địa phương của HS, xây dựng chương trình, kế hoạch HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS; Đa dạng hóa các hình thức tổ chức, loại hình HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS; Huy động nguồn lực cho tổ chức HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS”. Trong một nghiên cứu khác về “Mô hình HĐTN GD lịch sử địa phương cho HS ở trường TH” [32, tr.22-26], Huỳnh Mộng Tuyền đã đưa ra khái niệm “mô hình HĐTN GD Lịch sử địa phương cho HS”; phân tích các “mô hình HĐTN GD Lịch sử địa phương cho HS”; đồng thời tác giả cũng đề xuất tổ hợp một số “cách thức tổ chức kết hợp với trò chơi trong TN GD lịch sử địa phương cho HS”. Tác giả Hoàng Công Kiên và các cộng sự trong bài viết “Khai thác yếu tố địa phương trong xây dựng nội dung tổ chức HĐTN ở các trường TH trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” [15, tr. 54-58] đã trình bày những vấn đề lý luận về vấn đề 8 “học qua TN”, xác định những yêu cầu về „yếu tố địa phương trong tổ chức HĐTN đối với HS TH tỉnh Phú Thọ” và số yếu tố địa phương có thể khai thác trong, tổ chức HĐTN đối với HS TH tỉnh Phú Thọ”.
Ngoài ra, còn một số luận văn nghiên cứu về QL, tổ chức HĐTN ở TH theo các góc độ khác nhau như theo định hướng PTNL cho HS TH. Như vậy, có thể thấy rằng, dạy học TN và tổ chức HĐTN là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới quan tâm. Mô hình GD TN cũng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó, vai trò của nhà trường, gia đình và XH đã được đề cập đến trong các nghiên cứu này ở các mức độ khác nhau.
Đây là những cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để luận văn kế thừa, phát triển trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về lý luận hay thực tiễn tổ chức HĐTN theo tiếp cận cùng tham gia. Vì vậy, tổ chức HĐTN ở các trường TH huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên là vấn đề nghiên cứu đảm bảo tính cấp thiết và tính mới. Các khái niệm cơ bản 1.
Hoạt động trải nghiệm Theo tác giả Phạm Quang Tiệp, “HĐTN là HĐGD, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực GD và nhóm KN khác nhau để TN thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia HĐ phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà GD, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, NL chung và một số NL thành phần đặc thù của HĐ này: NL thiết kế và tổ chức HĐ; NL thích ứng với sự biến động của nghề nghiệp và cuộc sống” [30, tr.