Chương 1: Cơ sở lý luận về GDBVMT trong trƣờng THPT. Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức hoạt động GDBVMT tại các trƣờng THPT tỉnh Bắc Ninh. Chương 3: Biện pháp tổ chức hoạt động GDBVMT tại các trƣờng THPT tỉnh Bắc Ninh. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG TRONG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ thế kỷ XIX một số nƣớc đã đƣa ra những đạo luật về môi trƣờng nhƣ: Luật cấm gây ô nhiễm nƣớc sông ở Anh năm 1876; Luật về khói than ở Mỹ năm 1896; Luật khoáng nghiệp, Luật sông ở Nhật năm 1896…. Sang thế kỷ XX khi xã hội loài ngƣời ngày càng phát triển, ÔNMT ngày càng nhiều, sự cạn kiệt về tài nguyên càng nhanh. Vì vậy BVMT mang tính cấp bách toàn cầu, con ngƣời phải phối hợp hành động nhằm tìm ra những biện pháp khắc phục ngăn chặn sự ÔNMT, sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với BĐKH đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Lần đầu tiên trong lịch sử, năm 1948 Liên hợp quốc họp tại Pa-Ri (Pháp) đã bàn về BVMT và tài nguyên thiên nhiên, từ đó thuật ngữ GDMT đƣợc sử dụng. Năm 1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa GDMT là nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triển các kỹ năng và các quan điểm cần thiết để hiểu, đánh giá đƣợc sự quan hệ tƣơng tác giữa con ngƣời với nền văn hóa và thế giới vật chất bao quanh, đồng thời GDMT cũng thực hiện quyết định đƣa ra bộ quy tắc ứng xử liên quan tới vấn đề đặc tính môi trƣờng. Ngày 05/6/1972, hội nghị Liên Hợp Quốc về "Môi trƣờng và con ngƣời" họp tại Stockholm (Thụy Điển), tại nguyên tắc thứ 19 đã nêu”. Việc GDMT cho thế hệ trẻ cũng nhƣ ngƣời lớn làm sao để họ có đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trƣờng” và lấy ngày 5/6 là ngày “Môi trƣờng Thế giới”.
Ngay sau đó, chƣơng trình môi trƣờng của Liên Hợp Quốc cùng với tổ chức Văn hóa- khoa học-giáo dục của Liên Hợp Quốc đã thành lập chƣơng trình GDMT quốc tế (IEEP). Tháng 10/1975, IEEP đã tổ chức hội thảo Quốc tế lần 5 thứ nhất về GDMT ở Beograde (Nam Tƣ cũ), kết thúc hội nghị đã đƣa ra đƣợc một Nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hƣớng dẫn GDMT. Ban đầu, nội dung của GDMT rất hạn chế, chỉ tập trung vào dạy và học các vấn đề môi trƣờng địa phƣơng; nội dung giáo dục chỉ tập trung vào những mặt sinh học và địa lý khi nghiên cứu môi trƣờng. Hội nghị liên Chính phủ lần thứ nhất về GDMT tại Tbilisi (Liênxô cũ) năm 1977 đã kêu gọi các đại biểu đƣa ra một cách tiếp cận mới mang tính toàn diện và liên ngành hơn.
Đến năm 1993, Hiệp hội GDMT Bắc Mỹ đƣa ra một khái niệm mới về GDMT là "quá trình giúp ngƣời học tiếp thu kiến thức, kỹ năng và những kinh nghiệm môi trƣờng tích cực để có thể phân tích vấn đề, đánh giá lợi ích và rủi ro, đƣa ra những quyết định đƣợc thông tin đầy đủ và thực hiện những hành động có trách nhiệm nhằm đạt đƣợc và duy trì chất lƣợng môi trƣờng”. Trong đó, nêu rõ mục tiêu GDMT là nhằm nâng cao nhân thức về vai trò của môi trƣờng và hiểu biết về môi trƣờng; giúp cho mỗi ngƣời xác định thái độ và lối sống cá nhân tích cực đối với môi trƣờng; có những hành động cho môi trƣờng tốt đẹp. Ở Việt Nam Năm 1962, Bác Hồ đã khai sinh ra “Tết trồng cây”. Cho đến nay phong trào trồng cây ngày càng phát triển mạnh mẽ góp phần làm cho môi trƣờng trong sạch hơn.
Năm 1991, Bộ Giáo dục - Đào tạo có chƣơng trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục và BVMT (1991-1995). Thông qua việc thay sách giáo khoa (Cải cách giáo dục năm 1986-1992), các tác giả đã chú trọng đến việc đƣa nội dung GDMT vào nội dung giảng dạy, trƣớc hết tập trung ở các môn sinh, địa, hóa, kỹ thuật nông nghiệp. Sau này, những chủ đề về GDBVMT còn đƣợc lồng ghép vào các môn học khác có liên quan đến môi trƣờng nhƣ: Giáo dục công dân, đạo đức, văn học… Bên cạnh đó các nhà trƣờng còn tổ chức các hoạt động ngoại khóa theo chủ đề năm học hoặc có liên quan đến tình hình địa phƣơng nhƣ: nƣớc với cuộc sống, rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, sử dụng năng lƣợng tiết kiệm trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trƣờng sinh thái, BĐKH…. 6 Từ năm 1995, dự án GDMT trong nhà trƣờng phổ thông Việt Nam (VIE 95/041) của Bộ GD&ĐT do UNDP tài trợ nhằm vào các mục tiêu cơ bản: + Hỗ trợ xây dựng một bản chính sách và chiến lƣợc thực hiện quốc gia về GDMT tại Việt nam.
+ Tăng cƣờng năng lực của Bộ GD&ĐT trong việc truyền đạt những nội dung và phƣơng pháp GDMT vào các chƣơng trình đào tạo giáo viên. + Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp tiểu học và trung học. Những chủ đề về GDBVMT không chỉ đƣợc lồng ghép vào những môn học có liên quan đến môi trƣờng nhƣ: địa lý, hoá học, mà cả các môn khác nhƣ giáo dục công dân, đạo đức, văn học. - Nội dung kiến thức về GDBVMT đƣợc đƣa vào gồm: Mối quan hệ của con ngƣời với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục, luật pháp BVMT , bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với BĐKH.
Nội dung GDBVMT đƣợc gắn liền với điều kiện địa lý, truyền thống, lịch sử văn hóa của các dân tộc, từng địa phƣơng. Khối kiến thức học sinh đƣợc trang bị ngoài những giờ học trên lớp học sinh còn đƣợc tham gia các chƣơng trình ngoại khoá theo các chủ đề có liên quan đến tình hình môi trƣờng ở địa phƣơng nhƣ: Nƣớc sạch, năng lƣợng sử dụng trong gia đình, Bioga, rừng nhiệt đới, môi trƣờng sinh thái, rác thải sinh hoạt, và một số các vấn đề khác nhƣ: VAC, chƣơng trình xanh hoá nhà trƣờng, Tết trồng cây, các cuộc thi tìm hiểu về môi trƣờng: viết truyện, chụp ảnh, quay băng hình VIDEO, vẽ tranh. Nhân ngày môi trƣờng thế giới 5/6, tuần lễ Quốc gia về nƣớc sạch và vệ sinh môi trƣờng, hàng năm, các nhà trƣờng đều tổ chức lễ phát động tại các nhà trƣờng với các chủ đề khác nhau năm 2011 với chủ đề "Rừng: thiên nhiên trong dịch vụ của bạn", năm 2012 với chủ đề ''Kinh tế xanh: có vai trò của bạn", năm 2013 với chủ đề "Suy nghĩ trƣớc khi ăn- là cách bảo vệ môi trƣờng'', qua đó nhằm giáo dục học sinh nâng cao nhận thức về môi trƣờng và có hành vi, thái độ đúng về môi trƣờng. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Khái niệm quản lý Quản lý là phân công, điều hành, phối hợp hài hòa giữa các thành viên với công việc và nguồn lực trong cơ quan, trong cộng đồng để hoàn thành một cách hiệu quả các nhiệm vụ, các mục tiêu, các kế hoạch đã đƣợc đƣa ra. Xét trên phƣơng diện hoạt động của một tổ chức thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động nói chung, là khách thể quản lý nhằm thực hiện đƣợc mục đích mục tiêu dự kiến”. [25] Hoặc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (Ngƣời bị quản lý) nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”.
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức và điều khiển) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Nhƣ vậy quản lý là tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý và những nhân tố liên quan trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao. Tóm lại, để quản lý một cách khoa học đòi hỏi nhà quản lý phải có những hiểu biết khoa học về đối tƣợng quản lý, về môi trƣờng.Những năng lực quản lý còn phụ thuộc vào khả năng vận dụng một cách khôn khéo và có hiệu quả các qui luật, sử dụng các phƣơng pháp thích hợp vào tình hƣớng cụ thể. Do đó quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Có các mô hình quản lý cơ bản sau: * Mô hình 5 yếu tố: - Kế hoạch hoá (Planing) - Tổ chức thực hiện (Organizing) - Chỉ đạo, chỉ huy (Leading) - Kiểm tra (Controling) - Thông tin (Information) 8 Mô hình đó ngƣời ta viết tắt là: P O L C I P I O C L * Mô hình 4 yếu tố là mô hình có 4 yếu tố sau đây: P A D C Mô hình này nêu lên vai trò quan trọng của việc thực hiện (Doing). Đối với nhà quản lý là vấn đề tổ chức thực hiện. Tất nhiên để tổ chức thực hiện cần phải biết rõ mục đích, những việc cụ thể gì,và làm bằng phƣơng pháp nào: M - N - P (Mục tiêu, nhiệm vụ, phƣơng pháp) Ngoài ra mô hình đó cũng nêu lên vai trò hoạt động trôi chảy. Để đạt đƣợc điều đó phải điều chỉnh sau khi đã kiểm tra.
Quản lý giáo dục Nhƣ khái niệm về quản lý đã đƣợc trình bày ở trên ta có kế hoạch của chủ thể quản lý các cấp khác nhau đến tận cùng các mắt xích của hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trên cơ sở nhận thức những nhiệm vụ cơ bản của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và cũng nhƣ quy luật của quá trình giáo dục và sự phát triển tâm lý của học sinh. Mechiti Zade nhà lý luận Xô-Viết về quản lý giáo dục: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phƣơng pháp, cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu.nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng”. Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên, ta có thể hiểu QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tận cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống giáo dục.