phần mở đầu và kết luận, nội dung đề án gồm có 3 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng “ Tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSNCL” Phần 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị tổ chức công tác kế toán tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm ĐVSNCL Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công, (khái niệm này được định nghĩa tại khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 và theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSNCL của Chính phủ).
Tóm lại đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về một hoạt động nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp toàn bộ hay cấp một phần và các nguồn khá, hoặc tự đảm bảo tự chủ kinh phí để chi phí hoạt động thường xuyên theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Trong quá trình hoạt động, ĐVSNCL được Nhà nước cho phép thu phí, lệ phí để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động. Khái niệm tổ chức công tác kế toán tại ĐVSNCL. Theo Luật Kế toán: “Tổ chức công tác kế toán là việc tổ chức thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản lưu giữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán”.
Theo tác giả tổ chức công tác kế toán được coi như là một hệ thống các yếu tố cấu thành: Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán; Tổ chức hệ thống sổ kế toán; Tổ chức hệ thống TKKT; Lập và phân tích báo cáo kế toán; Tổ chức công tác kế toán; Ứng dụng CNTT xử lý thông tin trong công tác kế toán. Tổ chức công tác kế toán thực chất là tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trên cơ sở hiểu biết về kế toán, các qui định của pháp luật kế toán, pháp luật khác có liên quan, qui mô, đặc điểm và yêu cầu quản lý của đơn vị kế toán. Tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp trong điều kiện thực hiện các quy định hiện hành, các cơ chế thị trường, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của hạch toán kế toán vừa là môn 7 khoa học, vừa là môn nghệ thuật ứng dụng để việc tổ chức đảm bảo được tính linh hoạt, hiệu quả và đồng bộ nhằm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả quản lý của đơn vị, hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức cũng như tối ưu hóa nguồn lực. Nội dung lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSNCL 1.1 Nhiệm vụ và nguyên tắc tổ chức công tác kế toán tại các ĐVSNCL * Nhiệm vụ: - Tổ chức tiếp nhận thông tin về các nội dung các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ở đơn vị và kiểm tra tính hợp pháp và hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế thông qua hệ thống chứng từ kế toán và chu trình lưu chuyển chứng từ kế toán.
- Tổ chức hệ thống hóa và xử lí thông tin kế toán nhằm thực hiện những yêu cầu thông tin kế toán thông qua hệ thống tài khoản kế toán, sổ kế toán trên nguyên tắc và phương pháp xác định. - Tổ chức cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho quản lí tài chính của đơn vị qua hệ thống báo cáo tài chính. * Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán - Nguyên tắc thống nhất + Thống nhất giữa các ĐVSNCL trong một hệ thống quản lý thống nhất: Thống nhất giữa cấp trên với cấp dưới, thống nhất giữa các đơn vị trong một ngành, thống nhất giữa các ngành với nhau. + Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các tiêu chí quản lý.
+ Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán. + Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. + Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại đơn vị về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán. + Thống nhất giữa chính các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán với nhau.
+ Thống nhất giữa bộ máy kế toán và bộ máy quản lý của đơn vị sự nghiệp trong mối quan hệ với bộ máy quản lý của ngành. + Thống nhất tuân theo tất cả các quy định hiện hành của Nhà nước. - Nguyên tắc phù hợp + Phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động của các ĐVSNCL. Hệ 8 thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán cần xây dựng phải bao phủ được các lĩnh vực sự nghiệp và phản ánh được cho từng lĩnh vực cụ thể theo các đặc trưng khác nhau phục vụ cho các yêu cầu quản lý tại các đơn vị mà vẫn tuân thủ các khuôn khổ pháp lý chung.
+ Phù hợp với hệ thống phương tiện vật chất và các trang thiết bị hiện có của mỗi đơn vị, đồng thời phải phù hợp với thực trạng đội ngũ lao động kế toán tài chính tại các ĐVSNCL này. + Hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán được xây dựng phù hợp với chế độ quản lý và cơ chế quản lý tài chính công hiện tại, cơ chế tài chính đặc thù của ngành cũng như các thông lệ và chuẩn mực kế toán công quốc tế. - Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả + Trên phương diện quản lý: Phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đối tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp. + Trên phương diện kế toán: Phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải có tính tin cậy, khách quan, đầy đủ, tạm thời, có thể so sánh được và bảo đảm tính khoa học, tiết kiệm, tiện lợi cho thực hiện khối lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán.
- Nguyên tắc tuân thủ theo các quy định hiện hành + Thực hiện theo đúng quy định của văn bản pháp luật. luật giáo dục nghề nghiệp, pháp luật kế toán, tài chính, thống kê, thuế. Tổ chức công tác kế toán trong các ĐVSNCL a, Tổ chức bộ máy kế toán Hiện nay các ĐVSNCL tổ chức bộ máy kế toán được thực hiện theo các mô hình sau: + Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung là một bộ máy kế toán chỉ có một cấp, cả đơn vị chỉ lập một phòng kế toán duy nhất để thực hiện toàn bộ công việc kế toán của đơn vị. Ở các bộ phận kinh doanh, dịch vụ,… không có tổ chức kế toán riêng, chỉ bố trí nhân viên hạch toán làm nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra hạch toán ban đầu về các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh, chuyển chứng từ hạch toán ban đầu về phòng kế toán theo định kỳ để phòng kế toán kiểm tra, ghi chép sổ kế toán.
+ Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán là đơn vị có phòng kế toán trung tâm, các đơn vị phụ thuộc, các bộ phận đều có tổ chức kế toán riêng. Tổ chức kế 9 toán ở các đơn vị, các bộ phận phụ thuộc là đơn vị kế toán phụ thuộc chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ công việc kế toán ở bộ phận mình, kể cả phần kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, định kỳ phải lập các báo cáo tài chính gửi về phòng kế toán trung tâm. Phòng kế toán trung tâm chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các phần hành công việc kế toán phát sinh tại đơn vị, hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán ở bộ phận phụ thuộc, thu nhận, kiểm tra các báo cáo kế toán của bộ phận phụ thuộc gửi lên và tổng hợp số liệu của đơn vị, bộ phận phụ thuộc cùng với báo cáo của đơn vị chính để lập báo cáo kế toán toàn đơn vị. + Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán, trong bộ máy kế toán ở một cấp cụ thể, các kế toán phần hành và kế toán tổng hợp đều có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng về công tác kế toán ở đơn vị * Tổ chức lao động kế toán - Kế toán phải là những viên chức thuộc biên chế của các cơ quan Nhà nước được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển theo quy định hoặc lao động hợp đồng do ĐVSNCL thực hiện tuyển dụng.
Đáp ứng trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp, có ý thức chấp hành pháp luật - Phân loại lao động kế toán: Lao động kế toán làm công tác quản lý bao gồm: Trưởng phòng và phó trưởng phòng Kế hoạch- Tài chính, kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán. Lao động kế toán thực hiện công tác kế toán (các kế toán phần hành và kế toán tổng hợp): Tùy thuộc vào trình độ và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, kế toán viên được phân vào ngạch kế toán sau: kế toán viên cao cấp, kế toán viên chính, kế toán viên, kế toán viên trung cấp, kế toán viên sơ cấp. * Xây dựng quy chế hoạt động bộ máy kế toán: Bộ máy kế toán có thể được quản lý theo chế độ thời gian làm việc hành chính theo quy định của Nhà nước (nghĩa là 8h/ngày hoặc quản lý theo khối lượng công việc hoàn thành. b, Tổ chức hệ thống thông tin kế toán * Tổ chức chứng từ kế toán: Hiện nay, các ĐVSNCL sử dụng chứng từ kế toán theo danh mục được ban hành tại Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.