Chương 1: Những lý luận chung về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Bệnh viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Bệnh Viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội 6 CHUÔNG 1 n h ũ n g l ý l u ậ n c h u n g V ẻ Tỏ c h ú c c ô n g t á c KÉ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ s ụ NGHIỆP CỒNG LẬP 1. TỎNG QUAN VÊ ĐƠN VỊ s ụ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm và vai trò đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị do cơ quan NN có tham quyền quyết định thành lập hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề, sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội, sự nghiệp văn hóa, thông tin, sự nghiệp thể dục, thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Đơn vị sự nghiệp công lập đuợc nhận diện thông qua các yếu tố sau đây: (i) Đuợc thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tố chức chính trị - xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; (ii) Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) Có tư cách pháp nhân; (iv) Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; (v)Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Vui trò đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị SNCL được thành lập để cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công đáp ứng nhu cầu của xã hội. Dịch vụ công là dịch vụ phục vụ quyền cơ bản của công dân, phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội như giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa, thê dục thê thao, môi trường, dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, giao thông vận tải, khoa học công nghệ xây dựng.
Vai trò đơn vị SNCL được thế hiện qua các mặt sau: Đơn vị SNCL chịu trách nhiệm về cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế văn hóa, thể dục thể thao.có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng 7 nhu câu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đơn vị SNCL thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao, khám chữa bênh, bảo vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và ứng dụng kết quả khoa học, công nghệ, cung cấp các sản phẩm về văn hóa nghệ thuật. nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án chương trình lớn phục vụ sự phát triển của đất nước.
Đơn vị SNCL thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước, góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hoạt động tài chính của đon vị sự nghiệp công lập 1. C ơ c h ế q u ả n lý tà i c h ín h đ ố i v ớ i đ ơ n v ị s ự n g h iệ p c ô n g lậ p Cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập hiện đang thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Năm 2015, BTC đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trình Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ).
Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 điều chỉnh cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng hướng tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích các đơn vị 8 CÓ điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao. So với nghị định 43/2006/NĐ-CP thì nghị định 16/2015/NĐ-CP có một số điểm nổi bật như sau: Một là, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập được dựa trên mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị cả về chi thường xuyên và chi đầu tư. Theo đó, căn cứ vào mức độ tự đảm bảo kinh phí chi đầu tư và chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập được phân chia thành 4 loại: (i) đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, (ii) đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên, (iii) đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, (iv) đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Hai là, việc tự chủ của các đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy nhân sự và tài chính được quy định tương úng với từng loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, trên nguyên tắc các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức độ tự chủ càng cao để khuyến khích các đơn vị tăng thu, giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước, trong đó có bao cấp tiền lương tăng thêm đê dân chuyên sang các loại hình đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư.
Cụ thê: các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đâu tư được giao quyền tự chú khá rộng như được quyết định số lưọng người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định, được tự quyết định mức trích quỹ bổ sung thu nhập mà không bị không chế mức trích Quỹ bổ sung thu nhập như các loại hình đơn vị sự nghiệp khác (đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên bị khống chế không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do nhà nước quy định; đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên bị khống chế không quá 2 lần, đơn vị do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên bị khống chế không quá 1 lần). 9 Ba là, giá dịch vụ sự nghiệp công được quy định tại Mục 2, Chương II của Nghị định, bao gôm các quy định về giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, cách xác định giá dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước và giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước. Theo đó, đối với dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được xác định theo cơ chế thị trường; đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí theo quy định và lộ trình tính giá theo quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Đồng thời, quy định cụ thể lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước.
Quy định này nhằm tạo điều kiện để từng bước tính đủ giá dịch vụ sự nghiệp công vào chi phí. Bốn là, về quy định chuyển tiếp, Nghị định quy định trong khi chưa ban hành hoặc sửa đổi Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực, các đơn vị sự nghiệp công theo từng lĩnh vực được tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ- CP và các Nghị định hiện hành về tự chủ trong các lĩnh vực 1. N ội dung quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập Quản lý tài chính luôn luôn là một bộ phận quan trọng mang tính tổng họp trong quản lý kinh tế xã hội. Quản lý tài chính được coi là họp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích họp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định.
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiêm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính. 10 Trong đơn vị sự nghiệp, Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là tài chính đơn vị sự nghiệp. Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt động và quan hệ tài chính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp. Là chủ thế quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Đê đạt được những mục tiêu đê ra, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm: Một là, về lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm Hằng năm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao cho đơn vị, nhiệm vụ của năm kế hoạch, căn cứ vào quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính, căn cứ vào chế độ chi tiêu tài chính hiện hành; căn cứ vào kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu, chi tài chính của năm trước liền kề; đơn vị lập dự toán thu, chi năm kế hoạch, số kinh phí chi thường xuyên và không thường xuyên. Dự toán kinh phí hoạt động của đơn vị được gửi lên cơ quan quản lý cấp trên theo quy định hiện hành.