Tổng quan nghiên cứu
Di cư quốc tế vì mục đích lao động đang là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Theo ước tính từ Tổ chức Di cư Quốc tế, thế giới hiện có khoảng 215 triệu người sinh sống và làm việc ngoài quốc gia gốc, chiếm tỷ lệ 3,3% dân số toàn cầu. Tại Việt Nam, số liệu thống kê ghi nhận gần 350.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo các chương trình chính thức. Riêng tại tỉnh Thanh Hóa, công tác xuất khẩu lao động luôn dẫn đầu cả nước với 10.018 người xuất cảnh làm việc có thời hạn. Tuy nhiên, song song với dòng di cư chính ngạch, tình trạng di cư lao động phi chính thức và tự phát sang thị trường Trung Quốc đang diễn biến hết sức phức tạp tại các vùng nông thôn ven biển.
Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề di cư tự phát vượt biên sang Trung Quốc tìm kiếm việc làm của người dân xã Hoằng Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là địa bàn ven biển đặc thù với 11.148 nhân khẩu, trong đó lực lượng lao động khai thác thủy sản chiếm 2.300 người trên tổng số 5,200 lao động địa phương. Đề tài hướng tới mục tiêu mô tả thực trạng, nhận diện các đặc điểm nhân khẩu học, làm rõ việc làm, mức thu nhập thực tế, đồng thời phân tích cơ chế vận hành của mạng lưới xã hội phi chính thức trong quá trình di cư. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa được triển khai từ tháng 6/2017 đến tháng 7/2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý ban hành giải pháp quản lý lao động, giảm thiểu rủi ro pháp lý và định hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng biển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đồng bộ ba khung lý thuyết xã hội học nền tảng nhằm giải thích động thái và hành vi di chuyển lao động của người dân:
- Lý thuyết quy luật di cư của Ernest Ravenstein: Lý thuyết nhấn mạnh rằng di cư bắt nguồn từ sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, mức độ công nghiệp hóa và thương mại giữa các vùng lãnh thổ. Yếu tố kinh tế và ước muốn nâng cao đời sống vật chất đóng vai trò động lực cốt lõi chi phối quyết định di dời của người lao động.
- Lý thuyết lực đẩy và lực hút của Everett S. Lee: Khung lý thuyết phân tích quyết định di cư dựa trên sự tương tác giữa các yếu tố tiêu cực tại nơi đi (lực đẩy như mất mùa, nợ nần, thiếu việc làm, mức sống thấp) và các yếu tố hấp dẫn tại nơi đến (lực hút như thu nhập cao, công việc sẵn có, cơ hội cải thiện tài chính).
- Lý thuyết mạng lưới xã hội: Được kế thừa từ quan điểm cấu trúc xã hội của Anthony Giddens, lý thuyết xem xét mạng lưới quan hệ họ hàng, làng xóm và bạn bè như một dạng vốn xã hội đặc thù. Mạng lưới này cung cấp thông tin, hỗ trợ tài chính, bảo trợ tinh thần và tạo dựng con đường di cư phi chính thức khép kín.
Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: di cư, lao động, lao động di cư, di cư phi chính thức và mạng lưới xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính:
- Khảo sát bảng hỏi định lượng: Thực hiện trên cỡ mẫu 100 người dân từng sang Trung Quốc lao động và đã trở về địa phương. Do tính chất nhạy cảm và khó tiếp cận của hoạt động di cư tự phát qua biên giới, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo kỹ thuật quả bóng tuyết (snowball sampling). Quá trình tiếp cận bắt đầu từ những người quen biết ban đầu, sau đó nhờ họ giới thiệu đến các đối tượng tiếp theo cho đến khi hoàn thành dung lượng 100 mẫu điều tra.
- Phỏng vấn sâu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu 10 trường hợp lao động trực tiếp di cư trở về nhằm khai thác chi tiết trải nghiệm thực tế, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh hoạt và các rủi ro phát sinh.
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý các báo cáo kinh tế xã hội năm 2017 của UBND xã Hoằng Trường, số liệu quản lý cư trú từ Công an huyện Hoằng Hóa và Đồn Biên phòng địa phương.
Toàn bộ dữ liệu được thu thập trong khung thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 7/2018, đảm bảo tính cập nhật và độ tin cậy khoa học cao.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực địa tại xã Hoằng Trường mang lại những phát hiện quan trọng về bức tranh di cư lao động:
- Mức độ phổ biến và tính mở rộng của hiện tượng: Có tới 85% người dân địa phương cho biết họ quen biết ít nhất một người từng sang Trung Quốc tìm việc làm, trong khi chỉ 15% trả lời không quen biết. Đáng chú ý, 34% người được hỏi có người thân trực hệ trong gia đình đi làm việc tại Trung Quốc, 26% là hàng xóm và 25% là người có quan hệ họ hàng thân tộc.
- Đặc điểm nhân khẩu học đặc thù: Tỷ lệ nam giới tham gia di cư chiếm ưu thế áp đảo với 65%, trong khi nữ giới chiếm 35%. Về cơ cấu lứa tuổi, 50% người di cư nằm trong độ tuổi lao động sung sức từ 20 đến 40 tuổi, 44% thuộc nhóm thanh thiếu niên dưới 20 tuổi và chỉ 6% thuộc nhóm trên 40 tuổi.
- Trình độ học vấn và tình trạng kinh tế: Đa số người lao động có trình độ học vấn thấp với 42% mới tốt nghiệp trung học cơ sở, 30% ở trình độ tiểu học, 20% tốt nghiệp trung học phổ thông và chỉ 8% có trình độ trung cấp hoặc cao đẳng. Về mặt kinh tế, 33% hộ gia đình rơi vào cảnh thu nhập tháng nào tiêu hết tháng đó, 30% gặp khó khăn khi xoay xở chi tiêu sinh hoạt, và chỉ 10% có khoản tích lũy ổn định.
- Động cơ và cơ chế dịch chuyển: Lý do di cư xuất phát từ áp lực kinh tế với 40% muốn tìm kiếm trải nghiệm thu nhập mới, 20% cần tiền phụ giúp gia đình, 18% nghe theo lời đồn về công việc lương cao. Khi di chuyển, 100% người đi cùng người khác đều đi với người thân, họ hàng (10%), đồng hương (18%) hoặc bạn bè (20%), hoàn toàn không có trường hợp nào đi với người lạ. Bố mẹ (25%) và người trong gia đình (23%) là những chủ thể có sức ảnh hưởng quyết định nhất đến hành vi xuất cảnh.
Thảo luận kết quả
Kết quả khảo sát phản ánh sâu sắc bức tranh sinh kế bấp bênh tại xã Hoằng Trường. Hoạt động khai thác hải sản truyền thống với 584 bè mảng gắn máy chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu và suy giảm ngư trường ven bờ. Nhiều hộ gia đình vay vốn ngân hàng đầu tư ngư lưới cụ nhưng gặp rủi ro thiên tai, lâm vào cảnh nợ nần. Bên cạnh đó, tập quán sinh nhiều con nhằm gia tăng lao động đi biển khiến gánh nặng tài chính gia đình càng thêm trầm trọng. Khi nguồn việc làm tại chỗ thiếu hụt và mức lương tại các công ty may trên huyện chỉ đạt khoảng 3 triệu đồng/tháng, sức hút từ mức thu nhập 10 đến 40 triệu đồng/tháng tại Trung Quốc trở thành lực hút kinh tế khó chối từ.
Đáng chú ý, kết quả nghiên cứu chỉ ra sự tương phản rõ rệt với các lý thuyết di cư chọn lọc truyền thống. Nếu các công trình kinh điển nhận định người di cư thường có vốn học vấn cao hơn mặt bằng chung, thì tại Hoằng Trường, 72% người đi lao động chỉ có trình độ từ cấp hai trở xuống. Họ chấp nhận làm các công việc giản đơn như thợ mộc, sản xuất nhựa hoa, phụ việc xưởng gỗ với cường độ làm việc 12 đến 16 tiếng mỗi ngày. Mạng lưới xã hội thân tộc đóng vai trò kép: vừa là cầu nối thông tin giảm thiểu cảm giác bất an ban đầu, vừa là kênh trung chuyển khép kín duy trì dòng di cư tự phát bất chấp rủi ro bị cơ quan chức năng nước bạn trục xuất. Các dữ liệu này hoàn toàn có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn về phân bổ giới tính, biểu đồ cột về cơ cấu trình độ học vấn và bảng ma trận đối sánh giữa tình trạng hôn nhân với động cơ di cư.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết căn bản tình trạng di cư tự phát và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
- Phát triển sinh kế tại chỗ và đa dạng hóa ngành nghề: UBND xã Hoằng Trường cùng các cơ quan ban ngành cần đẩy mạnh thu hút đầu tư, khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch biển sinh thái, mở rộng các cơ sở chế biến hải sản. Mục tiêu tạo thêm 500 đến 700 việc làm ổn định hàng năm, nâng mức thu nhập bình quân của lao động tại địa phương lên trên 6 triệu đồng/tháng trong giai đoạn 2024-2026.
- Tăng cường chính sách tín dụng ưu đãi và hỗ trợ ngư nghiệp: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Hoằng Hóa phối hợp với chính quyền cơ sở triển khai các gói vay vốn trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi dưới 6%/năm. Hỗ trợ ít nhất 300 hộ gia đình ngư dân chuyển đổi mô hình đánh bắt xa bờ an toàn hoặc chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao.
- Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với xuất khẩu lao động chính ngạch: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện Hoằng Hóa và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa cần tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, bồi dưỡng ngoại ngữ và kỹ năng lao động. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 65%, kết nối trực tiếp với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động hợp pháp sang các thị trường như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc.
- Thiết lập mạng lưới truyền thông pháp luật và cảnh báo rủi ro: Lực lượng Công an xã phối hợp với Đồn Biên phòng và Đoàn Thanh niên tổ chức các buổi tuyên truyền lưu động tại 11 thôn. Phổ biến quy định Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, cảnh báo nguy cơ bị bóc lột, lừa đảo khi di cư trái phép, đạt tỷ lệ 100% người dân trong độ tuổi lao động được tiếp cận thông tin chính thống.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:
- Cơ quan hoạch định chính sách và chính quyền địa phương: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng phản ánh đời sống người dân vùng bãi ngang ven biển, hỗ trợ xây dựng các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm và quản lý di biến động dân cư hiệu quả.
- Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Xã hội học, Nhân học: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội, kỹ thuật chọn mẫu quả bóng tuyết trong nghiên cứu các nhóm đối tượng yếu thế và đề tài xã hội học nhạy cảm.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan bảo vệ quyền lao động: Nguồn dữ liệu thực địa phục vụ việc thiết kế các dự án truyền thông phòng chống buôn bán người, bảo vệ quyền lợi cho lao động di cư tự do xuyên biên giới.
- Người lao động và cộng đồng dân cư địa phương: Giúp người dân nhận thức rõ ràng về các rủi ro pháp lý, điều kiện làm việc khắc nghiệt tại nước ngoài, từ đó có định hướng nghề nghiệp và lựa chọn con đường xuất khẩu lao động an toàn, hợp pháp.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến làn sóng di cư tự phát sang Trung Quốc tại xã Hoằng Trường?
Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ áp lực kinh tế và thu nhập bấp bênh tại địa phương. Với 63% hộ gia đình không có tích lũy tài chính cùng sự suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ, mức thu nhập từ 10 đến 40 triệu đồng/tháng tại Trung Quốc trở thành lực hút mạnh mẽ đối với người dân.
Mạng lưới xã hội đóng vai trò như thế nào trong quá trình người dân di cư?
Mạng lưới xã hội hoạt động như kênh hỗ trợ sinh tồn phi chính thức. Nghiên cứu chỉ ra 100% người đi cùng người khác đều đi với người thân quen, và 70% người được hỏi quyết định xuất cảnh dựa trên sự giới thiệu, dẫn đường từ bố mẹ, họ hàng hoặc bạn bè thân thiết.
Cơ cấu trình độ học vấn của người lao động di cư có đặc điểm gì nổi bật?
Khác với các luồng di cư chọn lọc thông thường, người di cư tại Hoằng Trường có trình độ học vấn rất thấp. Số liệu khảo sát cho thấy 72% lao động chỉ học hết bậc tiểu học hoặc trung học cơ sở, khiến họ khó tiếp cận thị trường lao động chính ngạch trong nước.
Điều kiện làm việc và thu nhập thực tế của người dân tại Trung Quốc ra sao?
Người lao động chủ yếu làm công việc tay chân nặng nhọc như nghề mộc, làm đồ nhựa hoa hoặc phụ xưởng gỗ. Họ phải làm việc kéo dài 12 đến 16 tiếng mỗi ngày để đạt mức thu nhập từ 10 đến 40 triệu đồng/tháng, song phải đối mặt với nhiều rủi ro về an toàn và pháp lý.
Đâu là giải pháp căn cơ nhất để kiểm soát tình trạng di cư tự phát tại địa phương?
Giải pháp then chốt là tạo sinh kế bền vững tại chỗ thông qua phát triển du lịch biển, chế biến thủy hải sản và cung cấp tín dụng ưu đãi. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức cộng đồng và kết nối người dân với các chương trình xuất khẩu lao động chính ngạch được nhà nước bảo hộ.
Kết luận
- Hiện tượng di cư sang Trung Quốc lao động tại xã Hoằng Trường mang tính chất tự phát, phổ biến và vận hành chặt chẽ thông qua mạng lưới liên kết thân tộc phi chính thức.
- Lực lượng tham gia chủ yếu là nam giới trẻ tuổi (65%), nằm trong độ tuổi 20-40 (50%), có trình độ học vấn phổ thông cơ sở (42%) và chịu sức ép lớn về kinh tế gia đình.
- Chênh lệch thu nhập và thiếu việc làm ổn định tại địa phương là lực đẩy chính, trong khi kỳ vọng mức lương cao từ 10 đến 40 triệu đồng/tháng là lực hút quyết định hành vi di cư.
- Đóng góp khoa học của luận văn là làm sáng tỏ vai trò của vốn xã hội và mạng lưới quan hệ trong việc duy trì các dòng di cư phi chính thức tại cộng đồng ven biển Việt Nam.
- Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ vay vốn chuyển đổi sinh kế và tăng cường hợp tác quản lý lao động qua biên giới nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của người dân.