phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương có nội dung như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu. Trong chương này, tác giả luận văn đưa ra các khái niệm di cư, tổng quan nghiên cứu về di cư sang nước ngoài lao động. Lý thuyết về di cư được áp dụng trong đề tài cũng được phân tích ở chương này. Cuối chương là tổng quan về địa bàn nghiên cứu của đề tài luận văn.
Chƣơng 2: Thực trạng sang Trung Quốc tìm việc làm của người dân xã Hoằng Trường. Trong chương này, tác giả luận văn đưa ra các bảng phỏng vấn sâu kết hợp với số liệu định lượng để phân tích mức độ và chân dung cuộc sống của người dân. Cũng như sự gắn kết của gia đình có người di cư. Chƣơng 3: Thực trạng việc làm của người dân tại Trung Quốc.
Trong chương này, tác giả muốn phân tích rõ hơn về những công việc và thu nhập của người dân khi sang Trung Quốc làm. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm di cư Hiện nay di cư còn được gọi theo nhiều cách khác nhau như di cư, di dân, di trú và chuyển cư. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về di cư.
Trong từ điển Tiếng Việt phổ thông, nhà xuất bản giáo dục năm 1998 có một số khái niệm liên quan đến di cư. Di cư: “ Dời đến ở một miền quê hay một nước khác để sinh sống”. Di dân: “Dời dân đến ở nơi khác để sinh sống”. Di chuyển: “Dời đi nơi khác, di chuyển đến chỗ ở mới”.
Theo dân số học thì đưa ra khái niệm về di cư như sau: “ Di dân là hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong một khoảng thời gian nhất định”(Liên Hiệp Quốc – 1958). Định nghĩa của Liên Hiệp Quốc đã loại ra những trường hợp người sống lang thang, dân du mục, di dân theo mùa vụ và di dân theo kiểu con lắc ( đi về hàng ngày). Nhìn chung ở đa số các nước dân cư di chuyển ra khỏi giới hạn hành chính của một thành phố, tỉnh, huyện trong một khoảng thời gian xác định được xem là di dân. Do có nhiều cách hiểu khác nhau về di cư nên phân loại di cư cũng rất đa dạng.
Phân loại di cư dựa vào các tiêu chí phổ biến hiện nay như: Theo địa lý (di cư nội địa, di cư quốc tế, di cư đô thị, di cư nông thôn…);Theo thời gian cư trú( di cư ngắn hạn, di cư dài hạn); Theo tính tổ chức (di cư tổ chức và di cư tự do);Theo số lượng (di cư tập thể, di cư hộ gia đình, di cư cá nhân,.);Theo lý do (lý do kinh tế, lý do hôn nhân, lý do lao động – việc làm, lý do học tập) [24,tr. Trong cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004, người di cư được định nghĩa là những người từ 15 – 59 tuổi di chuyển từ quận/huyện này sang 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra, và đã cư trú trên địa bàn điều tra từ một tháng trở lên. Một người di cư từ quận này sang quận khác trong nội thành phố trong khoảng thời gian 5 năm trước điều tra được xem là người không di cư. Những người 15 – 59 tuổi sống tại cùng quận/huyện trong ít nhất 5 năm trước điều tra được xem là người không di cư ( TCTK và UNFPA, 2005).
Theo tổ chức di cư quốc tế (ILO) định nghĩa di cư là sự dịch chuyển dân số bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới quốc gia hay trong một quốc gia. Là một sự di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và người di cư vì mục đích khác (trong đó có đoàn tụ gia đình). Khái niệm lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con người sử công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người.
Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. Khái niệm lao động di cư “Lao động di cư là người rời quê hương đi tìm việc làm ở những thành phố lớn hay nước ngoài với mong muốn thu nhập khá hơn, có cuộc sống tốt hơn” [41]. Hay “Lao động di cư là một loại hình di cư, trong đó các cá nhân 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay cộng đồng thực hiện sự di chuyển ra khỏi nơi cư trú của họ với mục đích tìm kiếm việc làm thu nhập” [24, tr.
Lao động di cư cũng chia làm nhiều loại hình như lao động di cư ra nước ngoài và lao động di cư trong nước, lao động di cư dài hạn và lao động di cư ngắn hạn, lao động di cư có tổ chức và lao động di cư tự do, lao động di cư hợp pháp và lao động di cư bất hợp pháp [24, tr. Vậy, lao động di cư có thể hiểu những người hoặc cộng đồng người ra đi tìm kiếm việc làm hoặc lập nghiệp tại một vùng đất mới trong một khoảng thời gian nhất định nhằm cải thiện cuộc sống. Lý thuyết lao động di cư của Ernest Ravenstein Lý thuyết Ravestein là một trong những lí thuyết di cư sớm nhất của trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỷ 19 ở Châu Âu. Ngay từ năm 1989, Ravestein đưa một số nhận định đáng chú ý trong bài viết “Luật lệ di cư” in trên tạp chí of Royal Statistical Society.
Theo đó, Ravestein khẳng định di cư xảy ra sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp hóa và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia. Và quan trọng nhất là di cư bị quyết định bởi những ước muốn của con người về một đời dống tốt vật chất tốt đẹp hơn. Lý thuyết Ravenstein chú trọng vào yếu tố kinh tế, xem đây là nguyên nhân chính khiến con người quyết định đến lập nghiệp tại vùng đất mới [40, tr. Qua quan điểm lý thuyết của Ravestein sẽ tìm hiểu nguyên do người dân di cư sang Trung Quốc lao động, yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình di cư lao động của họ.
Lý thuyết di cư của Everrett S. Lee Trong tác phẩm “ A general theory of migration” năm 1966, Lee đã khái quát tất cả những yếu tố có ảnh hưởng tới quyết định di cư của các cá nhân trong hai phạm trù “ lực đẩy và lực hút”. Lực đẩy bao gồm những yếu tố tiêu cực như sự nghèo đói, thiếu các cơ hội kinh tế, thiếu đất đai canh tác và mức sống thấp nơi quê nhà (nơi đi). Trong khi đó lực hút( của nơi đến) bao 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm tính các yếu tố tích cực như sự giàu có, thịnh vượng, triển vọng, cơ hội, các công việc sẵn có và mức sống.
Theo Lee, những yếu tố tiêu cực có khuynh hướng “ đẩy” hay bắt buộc người ta rời bỏ nơi sinh sống và những yếu tố tích cực phản ánh sự hấp dẫn của nơi đến. Lee khẳng định thông tin, nhận thức, sự thông minh và hiểu biết của người di cư qua kinh nghiệm của bản thân hay qua các kênh thông tin từ đài báo hay từ họ hàng và bạn bè về các điều kiện của một khu vực nhất định cũng đóng vai trò đáng kể trong quá trình quyết định di cư của cá nhân. Thậm chí ông còn cho rằng, trên thực tế, những yếu tố điều kiện thực tế của nơi đến, hay nơi đi thậm chí không quan trọng bằng nhận thức của người di cư tiềm năng về chính nơi đi hay nơi đến của họ. Di cư cũng phụ thuộc vào việc tính toán của cá nhân giữa cái “ được” và cái “mất” ở nơi đi và nơi đến, và những người di cư thường hay tính toán về cái gọi là “ mức thu nhập mong ước” hơn là tính toán đến những chênh lệch thực sự về mức thu nhập giữa các thành phố và các vùng nông thôn [40, tr 6].
Qua lí thuyết của Everrett S.Lee có thể nhìn nhận và giải thích được động lực chi phối hành vi di cư của người dân xã Hoằng Trường. Lý thuyết mạng lưới xã hội Mạng lưới xã hội là cấu trúc xã hội được hình thành bởi những cá nhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích chung, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, những mối quan hệ niềm tin kiến thức và uy tín. Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định. Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối liên hệ, cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối các mối liên hệ đó.
Mạng lưới xã hội được sử dụng nhằm mục đích nhất định [1, tr. Đồ thị những mối quan hệ xác định, các nút thắt gắn kết cá nhân với xã hội chính là những mối liên hệ xã hội của cá nhân đó. Mạng lưới xã hội có thể dùng để kiểm tra vốn xã hội – giá trị mà các cá nhân có được từ mạng lưới xã hội. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lý thuyết về mạng lưới xã hội là một cách tiếp cận liên quan đến các nghiên cứu về xã hội học, nhân khẩu và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội.