phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục các công trình của tác giả có liên quan đến luận văn, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hƣơng 1 MỘT S VẤN Đ LÝ LU N V TINH THẦN NH P TH Ủ PH T GI O VÀ N N INH T THỊ TRƢ NG Ở VI T N M 1. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam 1. Tinh th n nh p th c a Ph t giáo 1.
Khái niệm nhập thế * Nhập thế Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2004, “nhập thế được định nghĩa là “dự vào cuộc đời (thường là ra làm quan), gánh vác việc đời, không đi ở ẩn, theo quan niệm của Nho giáo” [98, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2011 định nghĩa, nhập thế là “gánh vác việc đời, không xa lánh cõi đời” [87, tr. 1243], còn xuất thế là “lánh đời, lui vào ở ẩn hoặc đi tu, không tham gia vào hoạt động xã hội” [87, tr. Trên cơ sở khảo cứu quan niệm của các học giả, trong nghiên cứu này chúng tôi cho rằng, nhập thế là không xa lánh cuộc đời và chủ động tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội.
* Nhập thế trong tôn giáo Nói đến khái niệm nhập thế trong tôn giáo, nhà nghiên cứu Đỗ Quang Hưng trong bài viết Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đã phân biệt khái niệm “nhập thế” (engage in life) và khái niệm “thế tục hóa” (secularization) trong tôn giáo. Theo ông, nhập thế là sự chủ động tham gia của các lực lượng tôn giáo vào các vấn đề thế tục như chính trị, văn hóa, kinh tế,… vì xã hội. Thế tục hóa là sự chuyển giao các quyền chính trị, giáo dục cho các lực lượng thế tục, nghĩa là tách quyền lực tôn giáo ra khỏi quyền lực nhà nước [46, tr. Như vậy, nhập thế và thế tục hóa là hai khái niệm không đồng nhất với nhau.
Theo Từ điển Nho, Phật, Đạo do Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên giải thích, “Đạo gia cho rằng, tại gia mà tu đạo, đó có nghĩa là hòa nhập theo thế tục mà lập thân 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành đạo, cho nên gọi là công phu nhập thế. Như Lão Tử thờ nhà Chu, Trương Lương phò nhà Hán, Lưu Cơ giúp nhà Minh hưng thịnh, đều gọi là công phu nhập thế, để đối lập với công phu xuất thế. Hơn nữa, nếu lại làm các việc đời để làm nên công đức sửa mình, giúp đời, độ thế hành đạo, vì thế gian mà làm mọi đạo đức tế vật, tích lũy công hạnh để chứng đạo quả thì đều gọi là công phu nhập thế” [91, tr. Như vậy, khái niệm nhập thế trong tôn giáo có thể được hiểu là tôn giáo chủ động dấn thân, tiếp cận và thích ứng với thực tế sống động của đời sống thế gian; vận dụng tư tưởng từ phía tôn giáo cùng với xã hội thế tục giải quyết các vấn nạn của xã hội.
Nói cách khác, nhập thế trong tôn giáo chính là sự mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài phạm vi tôn giáo, như: chính trị, kinh tế, giáo dục, ngoại giao,…Tôn giáo nhập thế để phát triển. Nhập thế trong tôn giáo còn là sự thể hiện mối quan hệ giữa tôn giáo và xã hội thế tục. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là kết quả của nhu cầu tinh thần và tâm linh của xã hội thế tục. Tôn giáo không thể tách rời xã hội thế tục cũng như không thể tồn tại và phát triển bên ngoài nhu cầu tâm linh của đời sống xã hội.
Khi quan hệ giữa tôn giáo và xã hội thế tục tốt, nghĩa là tôn giáo góp phần giải quyết nhiều vấn đề của xã hội thế tục, thì tôn giáo ngày càng phát triển. Với xã hội thế tục, khi những ưu việt của tôn giáo được phát huy sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển trên nhiều phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục,… Nói tóm lại, khi tôn giáo dấn thân vào cuộc đời, thể hiện tinh thần nhập thế tích cực của mình thì không chỉ tôn giáo mà cả xã hội thế tục với những phương diện của nó đều phát triển. Khái niệm này cho phép ta có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của tinh thần nhập thế trong tôn giáo như sau: Thứ nhất, tinh thần nhập thế trong tôn giáo thuộc lĩnh vực đời sống của con người. Thứ hai, tinh thần nhập thế trong tôn giáo biểu hiện mối quan hệ giữa tôn giáo và xã hội của con người.
Vì vậy, tinh thần nhập thế trong tôn giáo mang tính lịch sử - xã hội, gắn với sự vận động và phát triển của xã hội. Nó biểu hiện trình độ và lợi ích khác nhau của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba, những nội của tinh thần nhập thế trong tôn giáo có ảnh hưởng quyết định đến định hướng các hành vi của mỗi cá nhân hay cộng đồng. *Nhập thế trong Phật giáo Trong nghiên cứu “Phật giáo nhập thế - Tiếp cận tư tưởng Phật giáo nhập thế của Trần Nhân Tông” in trong cuốn Phật giáo nhập thế và các vấn đề xã hội đương đại, tác giả Lại Quốc Khánh cho rằng, ở Việt Nam, từ thập niên 30 của thế kỷ XX, đã xuất hiện một khái niệm có liên quan đến khái niệm “Phật giáo nhập thế”.
Đó là khái niệm “Nhân gian Phật giáo”. Khái niệm này xuất hiện lần đầu trên tờ báo Đuốc Tuệ (ra mắt số đầu tiên ngày 10/12/1935) và gắn liền với loạt bài của học giả kiêm tiểu thuyết gia Nguyễn Trọng Thuật. Theo đó, “Nhân gian Phật giáo” là đạo Phật đóng vai trò dẫn dắt tinh thần với mục đích đem lại những điều có lợi cho nhân gian [Dẫn theo 50, tr. Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong nghiên cứu Đạo Phật đi vào cuộc đời (1964) cho rằng, “đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng của cuộc đời để biến cải cuộc đời theo chiều hướng thiện, mỹ.
Chừng nào sinh lực của đạo Phật được trông thấy dào dạt trong mọi hình thức của sự sống chừng đó ta mới có thể nói được rằng đạo Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời” [34, tr. Bản thân Thiền sư cũng đã giải thích: “Cuộc đời có nghĩa là cuộc sống hay xã hội. Đạo Bụt nhập thế tiếng Việt được hiểu là đạo Bụt đi vào cuộc sống, đạo Bụt đi vào xã hội” [36]. Theo nhà nghiên cứu Chân Minh khi đánh giá về tác phẩm nổi tiếng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là Hoa sen trong biển lửa (1966) - một tác phẩm đánh dấu sự khởi đầu của khái niệm Phật giáo nhập thế, cho rằng “Cái tự thân của đạo Phật là đi vào cuộc đời rồi.
Nếu không đi vào cuộc đời thì đâu còn là đạo Phật nữa? Điều này rất dễ hiểu. Chúng ta đã học Bát Chánh Đạo, chúng ta biết rằng Tứ Đế là một giáo lý khuyên chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta đối diện trực tiếp với khổ đau mà không phải chạy trốn khổ đau. Sự thật thứ nhất là sự có mặt của đau khổ, và mình phải trực tiếp đối diện với đau khổ đó. Vậy thì ngay trong sự hình thành của Phật 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo ta đã thấy cái tính chất dấn thân rồi.
Vì nếu không là dấn thân, nếu không phải là nhân gian, nếu không phải là đi vào cuộc đời, thì đạo Phật đâu còn là đạo Phật nữa? Vậy thì tại sao đã là đạo Phật rồi mà còn phải thêm chữ dấn thân, phải thêm chữ nhập thế nữa, phải thêm chữ engaged nữa? Tại vì sao? Là tại có những người nghĩ rằng đạo Phật là chỉ dành cho những người tu ở trong chùa thôi! Vì vậy, cho nên phải dùng chữ engaged cho họ hiểu. Khi người ta đã hiểu rồi thì mình bỏ chữ engaged đi cũng được, bỏ chữ dấn thân đi cũng được” [Dẫn theo 60]. Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Tinh thần nhập thế của Phật giáo là tinh thần gắn đạo với đời, là sự thích nghi của đạo Phật trước mọi biến đổi, động thái mới của cuộc sống; biểu hiện bằng việc áp dụng các tư tưởng của Phật giáo để cải biến nhân sinh, xã hội theo hướng tốt đẹp bằng nhiều phương tiện khác nhau. Một số nội dung tinh thần nhập thế của Phật giáo Phật giáo được hình thành từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên.
Người sáng lập ra Phật giáo là Thái tử Siddhartha (Tất Đạt Đa), con vua Suddhodama (Tịnh Phạn) trị vì Sykya - một bộ tộc nhỏ ven sông Ganga (sông Hằng), thuộc Nepan ngày nay. Sau khi giácngộ, người ta tôn ông là Buddha hay Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni). Thích Ca Mâu Ni đã kế thừa các tư tưởng truyền thống của Ấn Độ cổ đại (Kinh Veda, Kinh Upanishad của Balamon giáo… ) để sáng lập ra một trường phái tôn giáo - triết học mới, trường phái vô thần, vô ngã, nhìn thẳng vào nỗi đau nhân thế và tìm con đường giải thoát từ sự nỗ lực của bản thân con người. Sinh thời, Đức Phật không viết kinh sách, mà chỉ truyền miệng.
Về sau các đệ tử thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã biên tập lại thành những Kinh, Luật và Luận (gọi là Tam tạng) truyền bá lại cho đời sau. Sau khi Phật Thích Ca mất, Phật giáo chia làm nhiều tông phái. Trong đó nổi lên hai tông phái lớn về mặt triết học: Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana). Tiểu thừa phát triển ở miền Nam Ấn Độ và truyền sang các nước Srilanca, Miến điện, Thái Lan, Campuchia, Lào, Nam Việt Nam… còn gọi là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Pali (vì ghi bằng tiếng Pali).
Đại 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thừa phát triển ở miền Bắc Ấn và truyền qua các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Việt Nam… còn gọi là Phật giáo Bắc truyền, Phật giáo Bắc tông hay Phật giáo Sanskrit (vì ghi bằng tiếng Sanskrit). Lịch sử phát triển Phật giáo trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt đã diễn ra 4 lần kiết tập để chỉnh lý thống nhất giáo lý. Sau mỗi lẫn kiết tập thì nội dung của giáo lý ít nhiều có sự thay đổi nhằm phù hợp với con người và môi trường xã hội mới.