Chương 1 LÝ LUẬN VỀ TÍNH SÁNG TẠO TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.Trên thế giới Trên thế giới, sáng tạo không phải là vấn đề nghiên cứu độc tôn của tâm lý học. Các học giả nghiên cứu sáng tạo dựa trên các tác phẩm văn học nghệ thuật, tự thuật của các danh nhân, tiểu sử… để đi tìm nguyên nhân, sự khác biệt nào dẫn đến sáng tạo ở con người. Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Asinveniendi) lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Pappos sống vào nửa cuối thế kỷ III tại Alexandria – Hy Lạp.
“Khoa học hóa tư duy sáng tạo” hay sáng tạo, theo quan niệm lúc bấy giờ, là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán học, quân sự… Sau đó các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano… đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người tuy nhiên điều này vẫn chưa thể thực hiện được. Rất lâu sau đó, khoa học sáng tạo hầu như bị lãng quên. Mãi đến giữa thế kỷ XIX, các nhà xã hội học mới có những đóng góp đáng kể đầu tiên trong việc giải quyết vấn đề sáng tạo. Họ cho rằng, bản chất của tính tích cực sáng tạo là ở hoạt động tưởng tượng, nhờ hoạt động tưởng tượng mà kích thích khả năng sáng tạo.
Quan điểm này về sau đã được các nhà tâm lý học Macxit ủng hộ và phát triển. Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, vấn đề sáng tạo được chú ý nghiên cứu mạnh do đây là thời điểm nhân loại có những bước tiến vượt bậc về khoa học 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỹ thuật và cũng do yêu cầu phát triển kinh tế của các nước. Trong đó, Mỹ và Liên Xô là hai nước có nhiều thành tựu to lớn và đáng kể nhất. Ở nước Mỹ: Nước Mỹ là một nước có nền khoa học – kỹ thuật phát triển vào bậc nhất trên thế giới, bởi vậy các nhà khoa học ở đây có điều kiện thuận lợi về mặt cơ sở vật chất để tiến hành các công trình nghiên cứu về sáng tạo.
Vào đầu những năm 1920, Lewis Terman tiến hành một số công trình nghiên cứu về sáng tạo trên những học sinh có chỉ số IQ từ 140 trở lên. Công trình này đã được đánh giá rất cao, sau đó ông còn nghiên cứu nhiều công trình khác cũng về lĩnh vực sáng tạo và đã rút ra nhiều điều về các vấn đề chung của sáng tạo như: nhân cách sáng tạo, sản phẩm sáng tạo… Năm 1938, cuốn sách đầu tiên về vấn đề sáng tạo được xuất bản, đó là cuốn sách của tác giả A. Ông là một nhà kinh doanh nhưng lại hết sức quan tâm đến lĩnh vực sáng tạo, đặc biệt là tư duy sáng tạo. Ông đã cho ra đời 4 cuốn sách về sáng tạo và được tái bản 26 lần.
Một trong những cuốn sách đó là cuốn sách giáo khoa “Ứng dụng của ý tưởng khoáng đạt” đã được sử dụng tại 300 trường đại học và cao đẳng. Năm 1944, William Gardon – nhà nghiên cứu sáng tạo người Mỹ - đã đưa ra luận điểm chung về việc kích thích tư duy sáng tạo. Từ năm 1953 – 1959, ông đề xuất phương pháp sáng tạo với cái tên Xinetic (tiếng Hy Lạp nghĩa là kết hợp các yếu tố khác chủng loại).Các nhóm Xinetic là các nhóm bao gồm những người thuộc những ngành nghề khác nhau, gặp nhau với mục đích giải quyết những vấn đề sáng tạo bằng con đường luyện trí tưởng tượng và kết hợp với những yếu tố không thể dung hòa. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống về sáng tạo bắt đầu vào năm 1950 do nhà tâm lý học Mỹ J.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Guilford – Giáo sư trường Đại học Tổng hợp ở miền nam California – là nhà Tâm lý học có công đầu tiên trong việc khẳng định sự tồn tại của trí sáng tạo. Ông đưa ra mô hình trí tuệ gồm 120 thành tố, trong đó có 61 thành tố thông minh và 59 thành tố sáng tạo. Ông cho rằng sáng tạo có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động tạo ra những giá trị mới chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân, hoặc chưa từng có trong kinh nghiệm xã hội. Đồng thời ông khuyến khích các nhà Tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề này, theo hướng tìm cách trả lời những câu hỏi: Có thể nhận biết khả năng sáng tạo của con người không? Nếu có thì bằng con đường nào? Có thể phát triển được tiềm năng sáng tạo của con người không? Từ đây, tính sáng tạo đã được các nhà Tâm lý học Mỹ thừa nhận là có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người.
Và từ lúc đó ở Mỹ xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo, chỉ tính riêng trong lĩnh vực tâm lý – giáo dục đã có tới 14 nhóm nghiên cứu như: J. Holland, May, Mackinnon, F.Torrance… Nội dung của các công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề cơ bản của hoạt động sáng tạo như: những tiêu chuẩn cơ bản của hoạt động sáng tạo, bản chất, quy luật của hoạt động sáng tạo, thuộc tính của nhân cách sáng tạo, vấn đề phát triển năng lực sáng tạo. Nước Mỹ đã đề ra yêu cầu cấp thiết cho các nhà khoa học và đầu tư lớn cho những nghiên cứu tâm lý học về sáng tạo của con người với khẩu hiệu: Để cho một quốc gia có thể sống sót thì mỗi cá nhân phải suy nghĩ sáng tạo. Nước Mỹ đã gặt hái nhiều thành công về lĩnh vực sáng tạo nhờ chính sách phát triển này.
Từ đó đến nay, nước Mỹ vẫn tiếp tục phát triển nghiên cứu từ việc chẩn đoán, phát triển các thành tố tạo nên sự sáng tạo nhằm chú trọng phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Liên Xô: Các nghiên cứu của các nhà Tâm lý học ở Liên xô về vấn đề sáng tạo chủ yếu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các nghiên cứu này tương đối có hệ thống, toàn diện và sâu sắc về tính sáng tạo của con người. Nhà Tâm lý học A.Luk có công trình “Tâm lý học sáng tạo” nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của hoạt động sáng tạo.Puskin nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của tư duy sáng tạo, mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo và vô thức.Iarosepxki nghiên cứu những vấn đề tâm lý học của hoạt động tư duy khoa học, những đặc điểm chung và đặc thù của hoạt động phát minh của các nhà khoa học.
Các nhà tâm lý học L.Rubinstein nhấn mạnh ảnh hưởng qua lại giữa tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo, đánh giá sự có mặt tất yếu của tưởng tượng sáng tạo trong hoạt động tư duy.Rudich – giáo sư, tiến sỹ Tâm lý học người Nga – nghiên cứu các đặc điểm cơ bản của quá trình tưởng tượng sáng tạo, đưa ra quan niệm rằng không phải bất kỳ loại tưởng tượng nào cũng có thể tham gia vào quá trình sáng tạo được mà chỉ có những loại tưởng tượng sáng tạo với những nét tiêu biểu như sau: - Nền tảng kiến thức chung lớn, kinh nghiệm thực tiễn nhiều. - Nảy sinh ý niệm dưới hình thức khái quát chung nhất mang tính chất nguyên tắc; thử giải quyết nhiệm vụ trong thực nghiệm cụ thể hoặc trong thử nghiệm có tính chất cấu trúc. - Biến ý niệm chung ban đầu thành giải pháp cụ thể. - Thể hiện lý thuyết trong các thí nghiệm, chứng minh lý thuyết đó, thể hiện ý niệm sáng chế thành sản phẩm cụ thể.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, tác giả còn quan tâm nghiên cứu ý đồ cá nhân, tâm trạng, cách thức, khả năng, vai trò của tưởng tượng, tư duy đối với quá trình sáng tạo của con người. Bên cạnh các nhà Tâm lý học Mỹ và Liên Xô, các nhà Tâm lý học Ba Lan, Đức, Tiệp Khắc, Bulgari cũng rất quan tâm nghiên cứu vấn đề sáng tạo cả về lý luận lẫn thực nghiệm. Năm 1984, nhà Tâm lý học người Đức Erika Landau trong cuốn sách của mình đã khẳng định: “Trí sáng tạo là một thuộc tính bổ sung, mở rộng trí thông minh. Trí sáng tạo được hình thành dựa trên trí thông minh, nó mở rộng và nâng cao trí thông minh bằng cách tìm ra mối quan hệ mới giữa những thông tin đã biết”.Naudov – viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Bungary – đã có công trình nghiên cứu về bản chất sáng tạo của văn học.
Trong tác phẩm “Tâm lý học sáng tạo văn học” ông đã đề cập đến các vấn đề quá trình sáng tạo, các yếu tố ý thức của sáng tạo văn học và vấn đề cảm hứng sáng tác dưới góc độ triết học duy vật biện chứng. Năm 1994, trắc nghiệm sáng tạo TSD- Z của tác giả người Đức Klaus K. Urban ra đời. Đây là dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ (vẽ tranh) được thiết kế cho cả trẻ em và người lớn, thời gian là 15 phút, đưa ra một trang giấy test có 6 hoạ tiết trong đó 5 hoạ tiết nằm trong khung hình chữ nhật, một hoạ tiết nằm ngoài khung này, các nghiệm thể được yêu cầu phải hoàn thiện bức tranh dựa trên các hoạ tiết đã cho theo ý của riêng mình.
Các bức tranh sau đó được chấm điểm theo 14 tiêu chí, phản ánh cấu trúc sáng tạo mà trắc nghiệm muốn đo lường theo mô hình lý thuyết sáng tạo của Klaus K. => Tóm lại: Có thể thấy rằng nghiên cứu về sáng tạo là một lĩnh vực được các nhà tâm lý học rất quan tâm, đặc biệt là trong những năm gần đây, các lĩnh vực 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu về sáng tạo ngày càng phong phú và phát triển, có thể tựu trung thành một số hướng nghiên cứu sau: - Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình sáng tạo, bao gồm các bước đi đến những ý tưởng sáng tạo mới. - Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ nhân cách, làm cơ sở định hướng và phát triển những nhân cách sáng tạo. - Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ văn hóa: nghiên cứu những yếu tố văn hóa tác động đến tính sáng tạo của con người.
- Nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ sinh lý thần kinh: nhằm lý giải sáng tạo dưới góc độ sinh học.