Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa nghiên cứu tình hình tội cướp giật tài sản 1. Khái niệm và đặc điểm của tình hình tội cướp giật tài sản Khái niệm tình hình tội phạm: Trong xã hội loài người, “khi sự chênh lệch về tài sản trong nội bộ cùng một thị tộc đã biến sự thống nhất về lợi ích thành sự đối kháng giữa các thành viên của thị tộc”, thì đồng thời cũng xuất hiện trong xã hội nhiều loại hành vi khác nhau, xung đột lẫn nhau, thậm chí tiêu diệt lẫn nhau. Đó là sự khách quan do sự phát triển kinh tế của xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định mang lại.
Cái khách quan đó, cái hiện thực xã hội đó đã đưa đến việc hình thành Nhà nước như “một lực lượng cần thiết”, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”, “dưới hình thức gọi là hợp pháp” Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả ấy của mình, Nhà nước buộc phải quy định những hành vi xã hội nhất định, những hành vi gây nguy hiểm cho trật tự xã hội và vi phạm những quy tắc xử sự ngàn đời nay của đời sống cộng đồng thành tội phạm với những hình phạt nghiêm khắc khác nhau. Như vậy, dưới góc độ của triết học mác-xít, tiền đề đầu tiên phải là những hành vi phạm tội và kèm theo đó là bao điều mới lạ khác nữa.Mác đã ví những người phạm tội như một “lực lượng sản xuất”, và ông viết rằng: Một kẻ phạm tội thì sản xuất ra các tội phạm. Nếu quan sát kỷ hơn mối quan hệ của cái “ngành sản xuất” này với toàn bộ xã hội, thì phải thấy được nhiều điều. Kẻ phạm tội không chỉ sản xuất ra các tội phạm, mà còn sản xuất ra luật hình sự nữa; ngoài ra nó còn sản xuất ra toàn ngành sảnh sát và tư pháp hình sự, kiểm sát, thẩm phán, cai ngục… Nó còn sản xuất ra cả tiểu thuyết và nghệ thuật, cả những bi kịch nữa.
Kẻ phạm tội phá tan sự đơn điệu (Monotonie) và an toàn của cuộc sống dân sự… Rõ ràng, thực tế đời sống xã hội đã chuẩn bị sẵn những tiền đề cho việc hình thành và phát triển các ngành luật khác nhau, các phương thức pháp lý khác nhau để đấu tranh với tội phạm. Chính trong quá trình đó, quá trình đấu tranh chống tội 6 phạm, đã làm hình thành các môn khoa học khác nhau, như khoa học Luật hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra tội phạm… Tất cả đều lấy hành vi phạm tội làm khách thể nghiên cứu và đều xoáy vào mục đích là thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu quy định và xác định tội phạm, hình phạt và xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thế nhưng thực tế của đời sống xã hội cũng cho thấy rằng, bằng cách quy định tội phạm và hình phạt đủ loại, kể cả những hình phạt lấy đi mạng sống với những hình thức vô cùng tàn bạo cũng không làm cho xu hướng phạm tội giảm đi, mà theo thống kê (chỉ theo thống kê thôi) cũng cho thấy tình hình tội phạm ngày càng nghiêm trọng hơn. Quetelet, người sáng lập ra môn khoa học thống kê, sau khi được tiếp cận với những con số thống kê một số tội phạm ở pháp từ năm 1826 đến năm 1831 do ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép công bố, đã tỏ ra thất vọng với thực tế tình hình tội phạm cứ tăng lên một cách bền bỉ, mặc dù sự giàu có của xã hội ngày càng đồ sộ hơn, mặc dù khoa học không ngừng tiến bộ, mặc dù có sự cắt giảm đáng kể các phong tục, tập quán, mặc dù cảnh sát và tư pháp đã được tổ chức một cách thích ứng và mặc dù có những hình phạt nghiêm khắc đã được dự liệu.
Còn bản thân Ph. Ăng –ghen, trong “Lược thảo phê phán khoa học kinh tế chính trị” viết năm 1844 đã khẳng định. “Người nào hiểu đôi chút về thống kê tội phạm, thì tất cả phải thấy ngay là hiện tượng tội phạm đang tăng lên hàng năm với một sự đều đặn độc đáo như thế nào và những nguyên nhân nhất định đang đẻ ra những tội phạm nhất định cũng tăng lên một cách đều đặn như vậy”. Chính trong bối cảnh gây cấn và có phần bi đát do xu hướng tội phạm không ngừng gia tăng vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 ấy đã buộc con người mà trước hết là các nhà khoa học phải đi tìm phương hướng mới, đi tìm phương thức mới để có thể kiềm chế, kiểm soát, phòng ngừa và thậm chí đẩy lùi tội phạm.
Và trong quá trình đó, một khoa học mới được hình thành và phát triển. Đó chính là tội phạm học. 7 Nếu như khoa học Luật hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra tội phạm… tạo thành một phương thức đấu tranh trực diện với tội phạm với tính cách là “cái đơn nhất”, thì tội phạm học đấu tranh với tội phạm với tính cách là một hiện tượng xã hội “cái chung”, tức là cái đã được khái quát hóa từ những “cái đơn nhất”, từ những “cái riêng”. Cho nên phương thức này phải ở một trình độ khái quát hơn, cao hơn và hiệu quả hơn phương thức trực diện.
Và “cái hơn” của phương thức đấu tranh mới chỉ có thể đạt được nhờ cách tiếp cận trên cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về tội phạm. Đấu tranh tội phạm giờ đây không phải trên quan điểm xem tội phạm là những hành vi riêng lẻ - đơn nhất, mà trên quan điểm xem tội phạm trong tổng thể của nó, trong mối quan hệ của nó với “toàn bộ xã hội”, tức là với tư cách một chỉnh thể của một hiện tượng xã hội - mặt trái của các quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong chừng mực đó, tức là trong chừng mực mà từ hàng trăm, hàng nghìn hành vi phạm tội đơn nhất đã được nhìn nhận, được nhận thức là một chỉnh thể của một hiện tượng xã hội tiêu cực chỉ xuất hiện trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, phát sinh và phát triển do những nguyên nhân và điều kiện xã hội nhất định, vận động theo những quy luật riêng của nó, tức là phụ thuộc vào các quá trình, hiện tượng xã hội khác và do đó sẽ bị “tiêu vong” cũng thông qua sự biến đổi xã hội làm tiêu vong các nguyên nhân và điều kiện sinh tồn của nó, thì phương thức đấu tranh mới, rõ ràng đấu tranh với một khách thể khác nhau. Đó chính là tình hình tội phạm (Kriminalitaet chứ không phairStraftat).
Và sau hàng trăm năm tìm tòi, nghiên cứu tội phạm học ngày nay nhận thức được rằng, tình hình tội phạm (THTP) là hiện tượng tâm sinh lý- xã hội tiêu cực, vừa mang tính lịch sử và lịch sử cụ thể, vừa mang tính pháp lý hình sự với hạt nhân là tính giai cấp, được biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng với các chủ thể đã thực hiện các hành vi đó trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định.60] Chính khái niệm này nêu lên bản chất của tội phạm với tính cách là hành vi xã hội tiêu cực, hành vi cá thể này là kết quả tiêu cực của sự tương tác giữa môi 8 trường xã hội bên ngoài như các yếu tố tâm lý, xã hội và các quá trình tâm – sinh lý bên trong giữ vai trò điều chỉnh lối xử sự của chủ thể. Xã hội luôn thay đổi, tình hình tội phạm luôn phải chịu tác động của các quá trình xã hội, hiện tượng xã hội khác nhau. Trong những thời điểm, hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì tình hình tội phạm luôn khác nhau. Điều này được thể hiện thông qua các nội dung của tình hình tội phạm như: Động thái, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm.
Từ quan điểm thống kê, tình hình tội phạm là tổng thể thống nhất các tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định và trong không gian nhất định. Mối quan hệ giữa tình hình tội phạm và các tội phạm riêng lẻ là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Theo triết học Mác – Lênin, mỗi khái niệm đều chứa đựng ba yếu tố: chung, riêng và đơn nhất, do đó, khái niệm tình hình tội phạm là sự thống nhất của các yếu tố: Cái chung – những dấu hiệu đặc trưng cho tình hình tội phạm cái chung, cái riêng – những dấu hiệu đặc trưng cho các loại hình tội phạm, cái đơn nhất – những dấu hiệu đặc trưng cho các loại hình tội phạm cụ thể. Luận văn sẽ đi sâu và làm rõ các vấn đề về tình hình tội cướp giật tài sản, là tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, hiện nay, trên thực tế đã xảy ra nhiều vụ án cướp giật tài sản gây bức xúc, hoang mang trong quần chúng nhân dân, quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015.
Như vậy, từ những vấn đề nêu trên, có thể rút ra kết luận: “Tình hình tội cướp giật tài sản là một bộ phận của tình hình tội phạm nói chung, bao gồm các tội cướp giật tài sản được thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định”. Đăc điểm tình hình tội phạm: Là một hiện tượng xã hội tiêu cực, tình hình tội phạm bao giờ cũng có hai mặt của nó, đó là mặt bản chất và mặt hiện tượng. Hai mặt này phản ánh lẫn nhau. Bản chất phải được bộc lộ trong hiện tượng, còn hiện tượng thì biểu hiện bản chất.
Nói đến đặc điểm của tình hình tội phạm là nói đến hiện tượng, đến mặt biểu hiện ra bên ngoài của tình hình tội phạm. Và chính nhờ có mặt biểu hiện này người ta mới có thể nhận thức được tình hình tội phạm và thấy rõ sự khác nhau giữa “tội phạm” và “tình hình tội phạm”. Nếu như bất kỳ tội phạm nào 9 cũng được biểu hiện bởi bốn dấu hiệu pháp lý là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm, thì tình hình tội phạm được biểu hiện thông qua các đặc điểm định lượng và định tính mà tội phạm học gọi là: mức độ, cơ cấu, động thái và tính chất của tình hình tội phạm. Cho đến nay, bốn đặc điểm này của tình hình tội phạm vẫn chưa có một cái tên chung ổn định.