CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Lý do chọn đề tài: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment – FDI) đã trở thành xu thế khách quan trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia và FDI được nhìn nhận như là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng hiệu quả. Các nước G7 như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh, các Nics như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và đặc biệt là láng giềng như Trung Quốc, Ấn Độ là những điển hình dẫn đầu về tiếp nhận vốn FDI. Nguyên nhân là do các nước trên đã tạo lập được một môi trường đầu tư thuận lợi, theo hướng khuyến khích và ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Như một xu thế chung ngày nay, tất cả các nước trên thế giới đều cạnh tranh nhau để thu hút được nhiều nguồn vốn FDI bằng cách không ngừng cải thiện môi trường đầu tư quốc gia, tạo lập một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư. Hơn nữa các quốc gia thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) thường có một môi trường đầu tư rất cạnh tranh để thu hút FDI. Điều này tạo ra nhiều thách thức lớn cho những nước đang phát triển như Việt Nam – thành viên chính thức của WTO từ tháng 1/2007. Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới hầu giảm bớt thế tụt hậu ở Đông Á, Việt Nam đã tiến những bước dài trong lĩnh vực mở cửa và hội nhập quốc tế.
Việt Nam đã thành công trong vài năm đầu của quá trình đổi mới với sức hấp dẫn của một thị trường mới còn bỏ ngõ. Nhưng luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, mà nguyên nhân chính là những lý do yếu kém nội tại, mặc dù có sự châm ngòi của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Một số hãng của nước ngoài đã rút đầu tư khỏi Việt Nam. Nhưng đến cuối năm 2006, vốn đầu tư FDI vào Việt Nam lại đạt đến mức kỷ lục từ trước đến nay đạt 10,2 tỷ USD, đánh dấu sự trở lại của các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh như Intel, Canon,.
đã trở lại đầu tư vào Việt Nam, và dự báo nguồn vốn FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới. Như vậy việc xem xét, nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nguồn vốn FDI là khách quan và cần thiết từ khi nước ta bắt đầu tiếp nhận nguồn vốn FDI đến nay. Nguồn vốn FDI có góp phần vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam không? Hay hiệu quả sử dụng vốn FDI như thế nào? Với những câu hỏi đặt ra và những lý do nêu trên là cơ sở của việc lựa chọn đề tài “ Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Viêt Nam giai đoạn 1996 – 2005” làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài này có mục tiêu: Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: 1. Phương pháp thu thập số liệu: Đề tài được nghiên cứu trước hết bằng phương pháp thu thập số liệu, tài liệu có liên quan. Số liệu được thu thập từ những sách, báo, tạp chí kinh tế, và lấy từ internet. Phương pháp tổng hợp số liệu và so sánh đối chiếu: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và so sánh qua các năm, qua từng giai đoạn nhất định của một thời kỳ kinh tế, các ngành trong cơ cấu kinh tế, hay qua các chỉ tiêu đặt ra để so sánh.
Phương pháp phân tích số liệu: Sau khi tính toán, so sánh các số liệu theo chỉ tiêu đánh giá, phương pháp phân tích số liệu được tiến hành để đưa ra những nhận xét phù hợp. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1996 đến 2005. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Khái niệm về đầu tư trực tiếp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
Các hình thức đầu tư trực tiếp: Có nhiều hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tùy theo luật đầu tư của các nước và thường có các hình thức sau: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây dựng- vận hành- chuyển giao (BOT)…Các hình thức này thường được thực hiện tại các khu vực đầu tư đặc biệt như: khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, đặc khu kinh tế, thành phố mở… 2. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-operation): Là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (các bên tham gia) trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà. Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise): Là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm lẫn nhau trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Enterprise with one hundred percent foreign owed capital) : Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Dưới hình thức này cũng có các dạng công ty: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân… 2. Hợp đồng “xây dựng – kinh doanh - chuyển giao” (Building - Operate – Transfer – BOT): Là các văn bản mà chính phủ nước chủ nhà ký với các nhà đầu tư bên ngoài để xây dựng, kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định để đủ thu hồi vốn lãi. Khi hết hạn công trình sẽ được nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà mà không đòi bồi hoàn. Có nhiều loại hình tương tự như BOT như: xây dựng - chuyển giao- kinh doanh (BTO), xây dựng - chuyển giao (BT)… 2.
Tác động của đầu tư trực tiếp: Tác động của đầu tư trực tiếp cũng được đánh giá đối với hai phía: nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư về hai mặt: tích cực và tiêu cực. Đối với nước đi đầu tư: Tác động của đầu tư trực tiếp đối với nước đi đầu tư thể hiện ở những điểm sau: -Về mặt tích cực: Một là, FDI giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công nghệ và thiết bị, tăng cường bành trướng sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, FDI giúp các công ty giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn lao động rẻ, nguyên liệu và gần thị trường tiêu thụ. Ba là, FDI tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước.
-Về mặt tiêu cực: Thứ nhất, các công ty đầu tư vốn ra bên ngoài nhiều khiến cho tình hình thất nghiệp trong nước gia tăng, tăng trưởng kinh tế trong nước có thể bị ảnh hưởng. Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có nhiều rủi ro hơn trong nước, nhất là các rủi ro về chính trị, nên các doanh nghiệp thương đầu tư phân tán ở nhiều nước để hạn chế rủi ro. Đối với nước nhận đầu tư: -Về mặt tích cực: Một là, FDI giúp cho nước nhận đầu tư có được nguồn vốn từ bên ngoài để làm tăng khả năng tổ chức sản xuất, kinh doanh. Hai là, FDI tạo điều kiện để tiếp nhận kỹ thuật và công nghệ tiến tiến, hiện đại và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các công ty nước ngoài.
Ba là, FDI tạo điều kiện để khai thác tốt nhất các lợi thế của quốc gia. Bốn là, FDI giúp tạo thêm công ăn việc làm, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, tăng thu nhập quốc dân, góp phần nâng cao đời sống của người dân. Năm là, FDI giúp bổ sung nguồn thu cho ngân sách quốc gia thông qua nghĩa vụ thuế của các đơn vị đầu tư nước ngoài. Sáu là, FDI giúp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế có lợi cho nền kinh tế theo hướng mở, hội nhập kinh tế quốc tế.
Bảy là, FDI giúp tạo điều kiện tiếp cận với thị trường bên ngoài, thông qua các công ty liên doanh với nước ngoài với mạng lưới thị trường rộng lớn của các công ty đầu tư nước ngoài. Tám là, FDI tác động tích cực đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo và tâm lý của người lao động trong nước. Nhất là, làm thay đổi tác phong, thói quen làm việc của lao động ở các nước nông nghiệp. Chín là, FDI góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
-Về mặt tiêu cực: Thứ nhất là, nếu không có quy hoạch đầu tư tốt để dẫn đến đầu tư tràn lan, khai thác tài nguyên bừa bãi, gây ảnh hưởng môi trường. Thứ hai là, nếu không thẩm định tốt để dẫn đến tiếp nhận những kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, trở thành bãi rác công nghiệp của các nước công nghiệp. Thứ ba là, các doanh nghiệp của các chủ đầu tư trong nước bị cạnh tranh, dễ dẫn đến phá sản. Xét về lâu dài việc này có thể dẫn đến làm giảm tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa, khiến cho nước nhận đầu tư ngày càng lệ thuộc vào nguồn vốn FDI.
Thứ tư là, nếu không có trình độ quản lý tốt dễ dẫn đến bị thua thiệt trong việc chuyển giá nội bộ trong các công ty đa quốc gia, đồng thời cũng dễ bị các công ty nước ngoài trốn thuế, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ năm là, có thể làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán khi các doanh nghiệp FDI đi vào hoạt động do lượng ngoại tệ mất đi dưới dạng lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI chuyển ra, hoặc lượng nguyên, nhiên, vật liệu, hàng hoá nhập khẩu phục vụ sản xuất và các chi phí khác lớn hơn số vốn FDI được chuyển vào.