Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả khảo sát Chương 5: Ý nghĩa, kết luận và kiến nghị 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu: Chương 2 trình bày các định nghĩa, thuật ngữ, khái niệm và nội dung cơ bản của các lý thuyết có liên quan để làm cơ sở nền tảng cho nghiên cứu này. Chương này cũng trình bày mô hình nghiên cứu của đề tài.2 Các định nghĩa, khái niệm: 2.1 Thương hiệu (Brand): - Theo Moore (2003): Thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, “hình ảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó. - Theo Aaker (1996): Thương hiệu của một công ty là nguồn lực chính của lợi thế cạnh tranh và là tài sản chiến lược quý giá. - Theo De Chernatony (1998): Thương hiệu là giao diện giữa các hoạt động của doanh nghiệp và sự nhận thức của người tiêu dùng.1: Mối quan hệ giữa thương hiệu với hoạt động doanh nghiệp và nhận thức người tiêu dùng Thương hiệu Hoạt động của Nhận thức của doanh nghiệp người tiêu dùng Nguồn: De Chernatony (1998) 8 - Ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác về thương hiệu.
Theo Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002), có thể chia thành hai quan điểm chính: (i) Quan điểm truyền thống: Cho rằng thương hiệu là “một cái tên, một từ, thiết kế, biểu tượng hoặc bất kỳ một đặc điểm nào để phân biệt sản phẩm hay dịch vụ của đơn vị này với đơn vị khác”. Như vậy, với quan điểm này, thương hiệu được xem là thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp mình với các sản phẩm khác trong cùng tập cạnh tranh. (ii) Quan điểm tổng hợp: Cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó phức tạp hơn nhiều, nó là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Theo quan điểm này sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu làm nhiệm vụ cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng.
Trong khi đó, thương hiệu vừa cung cấp cho khách hàng mục tiêu không những lợi ích chức năng mà còn lợi ích tâm lý. Quan điểm tổng hợp về thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là người tiêu dùng luôn mong muốn được thỏa mãn hai nhu cầu, nhu cầu về chức năng và nhu cầu về tâm lý. Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng còn thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai.
Hơn nữa, như Stephen King của tập đoàn WPP đã từng phát biểu: “Sản phẩm là những gì được sản xuất trong nhà máy còn thương hiệu là những gì khách hàng mua. Sản phẩm có thể bị bắt chước bởi các đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty. Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu”. Chính vì vậy, dần dần thương hiệu đã thay thế cho sản phẩm trong các hoạt 9 động tiếp thị của doanh nghiệp.
Với quan điểm tổng hợp thì một thương hiệu được cấu tạo bởi nhiều thành phần. Hiện nay chưa có một sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về các thành phần cấu thành một thương hiệu. Tuy nhiên, một thương hiệu phải có các thành phần chính như tên gọi, biểu tượng, bản quyền, thuộc tính, tính năng sử dụng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, nhân cách thương hiệu, quốc gia xuất xứ, giá trị thông đạt,.2 Thành phần của thương hiệu: De Chernatony (1998) đã phân loại thương hiệu thành 12 yếu tố cấu thành khác nhau: - Công cụ pháp lý (Legal instrument). - Thông điệp vắn tắt (Shorthand, slogan).
- Chất lượng dịch vụ (Risk reducer). - Hệ thống nhận dạng (Identity system). - Hệ thống giá trị (Value system). - Mối quan hệ (Relationship).
- Giá trị cộng thêm (Adding value). - Thực thể tiến hóa (Evolving entity). Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, khái niệm thương hiệu được hiểu theo nghĩa rộng và tổng quát hơn chứ không đơn giản là cái tên, biểu tượng,. để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, mà nó là tập hợp các thành phần có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và tâm lý cho khách hàng mục tiêu.
Thương hiệu bao gồm 2 thành phần sau: 1 - Thành phần chức năng: Thành phần này có mục đích cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm. Nó bao gồm các thuộc tính mang tính chức năng (functional attributes) như công dụng sản phẩm, các đặc trưng bổ sung (features), chất lượng. - Thành phần cảm xúc: Thành phần này bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng (symbolic values) nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý. Các yếu tố này có thể là tính cách thương hiệu (brand personality), biểu tượng (symbols), luận cứ giá trị hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo (gọi tắt là USP - unique selling proposition), vị trí thương hiệu, đồng hành với công ty (organisational associations) như quốc gia xuất xứ (country of origin), công ty nội địa hay quốc tế… 2.3 Tính cách thương hiệu (Brand personality): Theo Aaker (1997): Tính cách thương hiệu là một thành phần trong nhận diện thương hiệu (Brand Identity).
Thương hiệu được nhận diện dưới bốn góc độ: (i) Góc độ sản phẩm gồm phạm vi sản phẩm, thuộc tính sản phẩm , chất lượng, cách sử dụng, người tiêu dùng, nguồn gốc sản xuất; (ii) Góc độ doanh nghiệp gồm thuộc tính, đặc điểm của nhà sản xuất, nhà sản xuất là công ty địa phương hay công ty toàn cầu; (iii) Góc độ “con người” gồm tính cách thương hiệu và mối quan hệ giữa thương hiệu – khách hàng; (iv) Góc độ biểu tượng gồm phép ẩn dụ liên tưởng và mang tính hình ảnh, tài sản thương hiệu. Như vậy, tính cách thương hiệu là một thành phần của nhận diện thương hiệu, thuộc góc độ “con người”. (Xem thêm ở phụ lục 8) Theo Hankinson & Cowking (1993), tính cách thương hiệu là một yếu tố trong chu trình xây dựng thương hiệu. Chu trình xây dựng thương hiệu gồm 5 bước theo trình tự: Bước 1 – Nghiên cứu, Bước 2 – Xác định thương hiệu (Định vị thương hiệu, Tính cách thương hiệu), Bước 3 – Marketing hỗn hợp (Sản phẩm và mẫu mã, giá cả, hệ thống phân 1 phối, cách truyền thông), Bước 4 – Truyền thông (Tên thương hiệu, các loại sản phẩm, bao bì), Bước 5 - Người tiêu dùng (Nhu cầu vật lý, nhu cầu tâm lý, sức mua).
Khi người tiêu dùng khi phải lựa chọn giữa 2 thương hiệu khác nhau thì người tiêu dùng có xu hướng chọn thương hiệu mà họ biết rõ. Nếu như họ đều biết rõ cả hai thương hiệu đó thì họ sẽ chọn thương hiệu có các thuộc tính được nhận biết rõ ràng nhất (Keller et al. Những sự tin tưởng khác nhau về các thuộc tính của thương hiệu chính là hình ảnh thương hiệu (Kotler et al., 2005) và khách hàng không giải thích được các thương hiệu tương tự nhau. Theo Plummer (2000), mỗi người tiêu dùng có các bộ lọc như kinh nghiệm và nhận thức.
Một thương hiệu có thể được mô tả với 3 nhóm tính cách khác nhau. Nhóm thứ nhất là các thuộc tính vật lý, nhóm thứ hai là các thuộc tính chức năng và nhóm thứ ba là những thuộc tính tính cách. mô tả các khía cạnh thuộc về tính cách của thương hiệu. Moore (2003) cho rằng “Tính cách thương hiệu (Brand Personality) là tập hợp những nét cảm xúc được dùng để định hình thương hiệu”.
Theo Kotler (2002) thì: “Những người làm marketing có thể cung cấp sản phẩm của họ với những tính cách thương hiệu phù hợp với tính cách của người tiêu dùng. Chẳng hạn, máy tính iMac của hãng Apple có tính cách thân thiện, hợp thời trang đã thu hút người mua không cảm thấy chán đối với những chiếc máy tính cá nhân bình thường” Theo www.com: - Tính cách thương hiệu là cách một thương hiệu thể hiện, biểu đạt sự khác biệt so với những thương hiệu khác. Những tính cách này thể hiện hành vi của thương hiệu thông qua cả những cá nhân đại diện cho thương hiệu (ví dụ như người lao động) cũng như mẩu quảng cáo, bao 1 bì… Khi hình ảnh thương hiệu hoặc nhận dạng thương hiệu được thể hiện theo những nét đặc trưng của con người, nó được gọi là tính cách thương hiệu. - Tính cách thương hiệu là sự nhân cách hóa của thương hiệu.
Một thương hiệu được thể hiện như là cá tính hiện thân cho những nét đặc trưng tiêu biểu hoặc là nét đặc trưng riêng. Tính cách thương hiệu là kết quả của tất cả kinh nghiệm người tiêu dùng thương hiệu đó. Nó là duy nhất và tồn tại lâu dài. - Tính cách thương hiệu phải được phân biệt với hình ảnh thương hiệu.
Trong khi hình ảnh thương hiệu thể hiện những lợi ích và thuộc tính của thương hiệu một cách hữu hình thì tính cách thương hiệu biểu thị những sự liên kết về cảm xúc của thương hiệu. Nếu hình ảnh thương hiệu là thương hiệu bao hàm dựa theo quan điểm của những người tiêu dùng thì tính cách thương hiệu là thương hiệu bao hàm mà tạo ra đặc tính và sự liên tưởng cảm xúc trong suy nghĩ của người tiêu dùng. - Tính cách thương hiệu phát triển giá trị thương hiệu. Nó là thông tin đầu vào quan trọng cho bất cứ hoạt động quảng bá và marketing thương hiệu.
Nó giúp ích trong việc hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào về thương hiệu. Tính cách thương hiệu cho thấy sự khác biệt giữa các thương hiệu một cách rõ nét. Tính cách thương hiệu được sử dụng để đưa ra chiến lược thương hiệu một cách xác thực. Tính cách thương hiệu chỉ ra mối quan hệ mà người tiêu dùng có đối với thương hiệu.
- Tính cách thương hiệu và sự nổi tiếng bổ sung lẫn nhau. Sự nổi tiếng đáng tin cậy sẽ đảm bảo sự nhận thức, mức độ chấp nhận và sự lạc quan hướng đến thương hiệu. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của khách hàng và cũng tạo ra tính trung thành thương hiệu.