Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM 1. Giới thiệu về Tết cổ truyền của người Việt 1. Lịch sử hình thành Tết cổ truyền của người Việt Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên một lãnh thổ. Mỗi một dân tộc đều có một cái tết riêng của mình nhưng tất cả đều ăn Tết Nguyên Đán.
Tết Nguyên Đán được coi là tiêu biểu nhất và có phạm vi rộng lớn diễn ra trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc Hán, “Nguyên” tức là sự bắt đầu, khởi đầu mang tính sơ khai và “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Chỉ có gọi như vậy mới nói hết được tầm với và chiều sâu tâm hồn của nếp sống truyền thống người Việt.
Một số nước chịu ảnh hưởng và du nhập từ văn hóa Trung Hoa nên lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch (hay được gọi là Tết Tây). Theo quy luật 3 năm sẽ nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 (Dương) và sau ngày 19 tháng 2 (Dương) mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 (Dương). Thời gian nghỉ Tết thường thường sẽ kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày (cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới) tức 23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng. Theo văn hóa học và Lễ hội học, Tết cổ truyền (Tết Nguyên Đán) là một dịp lễ lạt, văn hóa theo mùa cho nên có thể xem Tết Nguyên Đán là một hội lễ nông nghiệp, nghi thức nông nghiệp.
Vào thời cổ năm mới bắt đầu từ tháng Tý tức tháng 11 âm lịch, về sau do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa mới lấy tháng Dần làm tháng đầu năm. Theo lịch sử Trung Hoa Tết Nguyên Đán có từ thời Tam Vương, Ngũ Đế: Đời Tam Vương: Nhà Hạ chuộng màu đen, nên chọn tháng Dần là tháng đầu năm tức tháng Giêng âm lịch. Nhà Thương thích màu trắng, nên chọn tháng Sửu làm tháng đầu năm tức tháng Chạp. 11 Qua nhà Chu (1050-256 TCN) ưa sắc đỏ, nên chọn tháng Tý làm tháng đầu năm.
Các Vua chúa nói trên, theo ngày giờ, lúc mới khai thiên lập địa nghĩa là: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu có Đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra các ngày Tết khác nhau. Đến thời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời đổi ngày Tết vào ngày một tháng nhất định là tháng Dần. Mãi đến thời Tần thế kỉ 3 TCN, Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi tức tháng 10. Cho đến khi nhà Hán trị vì(Hán Vũ Đế (140TCN)) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng giêng) như đời nhà Hạ, và từ đó về sau trải qua bao nhiêu thời đại không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thư năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người, ngày thứ tám sinh ra ngũ cốc. Vì thế ngày Tết được kể từ ngày mồng 1 cho đến hết ngày mồng 7 tháng Giêng. Đặc điểm về thời gian của Tết cổ truyền của người Việt Tết Nguyên Đán nói riêng và Lễ Tết nói chung đều gắn với thời gian nhất định. Nó diễn ra theo thời vụ hàng năm.
Tết nguyên Đán là lễ hội có thời gian diễn ra dài nhất trong hệ thống lễ hội Tết ở Việt Nam. Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống Lễ Hội Việt Nam, mà phần Lễ cũng như phần Hội đều rất phong phú về cả nội dung lẫn hình thức: Phần Lễ các yếu tố linh thiêng bao giờ cũng diễn ra trước phần Hội. Lễ kéo dài từ ngày 23 tháng Chạp cho đến hết ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch. Tức là bắt đầu từ lễ cúng Ông Táo cho đến lễ Khai Hạ (hạ cây Nêu) người nông dân bắt đầu cày ruộng, những người không có việc thì đi chơi xuân.
Phần hội diễn ra khá dài và dài nhất trong các lễ hội Việt Nam. Nó kéo dài tới ba tháng. Vì thế dân gian thường có câu ca dao: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi. 12 Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè” Ăn Tết xong là người dân bắt đầu đi trẩy hội, du xuân, cầu phúc, cầu cho một năm mới bình an, hạnh phúc.
Đây cũng là thời điểm để ngành du lịch bắt đầu một mùa du lịch cho một năm mới, mở ra cơ hội lớn cho kinh doanh du lịch. Tiết khí trong năm Theo văn hóa Đông Á thuộc nền văn minh nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác đã có sự phân chia thời gian. Một năm 365 ngày được chia thành 4 mùa, mỗi mùa 3 tháng, gồm 8 tiết (Lập Xuân, Xuân Phân, Lập Hạ, Hạ Chí, Lập Thu, Thu Phân, Lập Đông, Đông Chí) và có 24 tiết khí (Lập xuân, Vũ thủy, Kinh rập, Xuân phân, Thanh minh, Cốc vũ, Lập hạ, Tiểu mãn, Mang chủng, Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử, Lập thu, Xử thử, Bạch lộ, Thu phân, Hàn lộ, Sương giáng, Lập đông, Tiểu tuyết, Đại tuyết, Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn) tương ứng với xuân, hạ, thu, đông. Ứng với mỗi tiết sẽ có một thời khắc “giao thời”.
Trong đó, tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức nói cách khác là sự chuyển giao, tiếp biến giữa cái cũ và cái mới. Tiết khí thực chất là 24 điểm đặc biệt trên quỹ đạo của Trái Đất khi quay xung quanh Mặt Trời. Mỗi điểm đặc biệt này cách đều nhau 15 độ, hoặc mỗi tiết khí cách nhau 15 ngày. Có thể nói, lịch 24 tiết khí là sản phẩm văn hóa tinh thần, là kinh nghiệm được dân gian dày công đúc kết từ đời cha ông ta xưa.
Các khí tiết và lễ tiết theo lịch pháp Mặt Trăng Nguyên nghĩa phát âm của Tết là “tiết”. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc Hán, “Nguyên” tức là sự bắt đầu, khởi đầu mang tính sơ khai và “Đán” là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”- là sự khởi đầu của năm mới nhưng không nằm trong 24 tiết khí, mà nó nằm giữa tiết này với tiết khác. Lịch tiết khí vừa gắn tháng với tuần trăng, vừa gắn năm với thời tiết.
Nông nghiệp thường dùng lịch này để chỉ đạo sản xuất, canh tác theo thời tiết mỗi mùa. Theo cách tính từ thời cổ đại, 24 tiết khí ứng với 4 mùa xuân, hạ, thu, đông. Mỗi mùa đều có 6 ngày tiết khí. Tuy nhiên, khi phân loại, người xưa dựa vào 4 13 tiêu chí như sau: 8 tiết khí biểu thị sự nóng lạnh thay đổi cho nhau gồm: Lập xuân, Xuân Phân; Lập Hạ, Hạ chí; Lập thu, Thu Phân; Lập Đông, Đông Chí.
5 tiết khí biểu thị nhiệt độ thay đổi gồm: Tiểu Thử, Đại Thử, Xử Thử, Tiểu Hàn, Đại Hàn. 7 tiết khí biểu thị cho sự liên quan đến mưa, nước gồm: Vũ Thủy, Cốc Vũ, Bạch Lộ, Hàn Lộ, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết. 4 tiết khí biểu thị cho sự vật, hiện tượng gồm: Kinh Trập, Thanh Minh, Tiểu Mãn, Mang Chủng. Ý nghĩa của 24 tiết khí: • Tiết Lập xuân “Lập” có nghĩa là xác lập, đánh dấu.
“Xuân” có nghĩa là mùa xuân. Vì vậy, tiết Lập Xuân đánh dấu sự bắt đầu của mùa xuân, cũng như đánh dấu sự bắt đầu của một năm mới. Ngày dương lịch: Từ ngày 4 tháng 2 hoặc ngày 5 tháng 2 đến thời gian bắt đầu tiết Vũ thủy. Ý nghĩa: Theo quan niệm dân gian, đây chính là thời điểm đất trời hân hoan, bắt đầu những điều tươi mới và may mắn.
Theo góc độ thiên văn học, thì tiết Lập Xuân đánh dấu một chu trình quỹ đạo mới của Trái đất khi quay quanh Mặt trời. • Tiết Vũ Thủy “Vũ” là mưa, “Thủy” là nước theo tiếng Hán thì Vũ Thủy là thời tiết mưa ẩm ướt, mưa phùn, có gió thổi nhẹ. Ngày dương lịch: Từ ngày 18 tháng 2 hoặc ngày 19 tháng 2 đến thời gian bắt đầu tiết Kinh trập. Ý nghĩa: Tiết khí Vũ thủy bắt đầu bằng những cơn mưa phùn nhỏ, người ta gọi đó là những cơn mưa xuân mang tới sự thay đổi tươi mới cho đất trời.
Độ ẩm và ánh sáng ở tiết khí này tạo điều kiện thuận lợi cho cây cỏ muôn loài sinh sôi, nảy nở. Đây cũng là thời gian người nông dân có thể tiến hành trồng trọt, cấy cày để bắt đầu một vụ mới tươi tốt, hứa hẹn một mùa vụ bội thu. • Tiết Kinh Trập 14 “Kinh” có nghĩa là kinh động, làm thức tỉnh, “Trập” có nghĩa là sâu bọ, côn trùng. Như vậy “Kinh trập” có nghĩa là các loại côn trùng, sâu bọ được thức tỉnh đến mùa sinh sôi, phát triển.
Nôm na thì đây là tiết khí sâu nở sau một thời gian ngủ đông. Ngày dương lịch: Từ ngày 5 tháng 3 hoặc ngày 6 tháng 3 đến thời gian bắt đầu tiết xuân phân. Ý nghĩa: Kinh Trập cũng là lúc sâu bọ sinh sôi và phá hại mùa màng vụ xuân của người dân. Chính vì vậy cần tiến hành phòng trừ sâu bệnh để bảo vệ mùa màng, cây trái của mình.
Tuy nhiên một vài loại cây ăn quả nhờ có côn trùng mà quá trình thụ phấn nhanh chóng hơn. • Tiết Xuân Phân Theo lịch Trung Hoa cổ đại, Xuân Phân là điểm giữa của mùa xuân, là một trong 24 tiết khí trong nông lịch. Theo định nghĩa này, thời điểm bắt đầu của nó trùng với khái niệm điểm xuân phân. Tuy nhiên, theo khoa học phương Tây thì xuân phân là thời điểm bắt đầu mùa xuân tại Bắc Bán cầu.
Khi mà Mặt Trời xuất hiện ở gần xích đạo nhất và đi lên hướng Bắc. Ngày dương lịch: Từ ngày 20 tháng 3 hoặc ngày 21 tháng 3 đến thời gian bắt đầu tiết Thanh minh. Ý nghĩa: Tiết Xuân phân tượng trưng cho sự cân bằng âm dương, là tiết khí cực kỳ tốt. Thời điểm này rất thích hợp để tiến hành những việc trọng đại như đám cưới, đám hỏi.
• Tiết Thanh Minh “Thanh” là trong xanh, còn “Minh” có nghĩa là sáng sủa. Khi những cơn mưa phùn của mùa xuân đã hết, bầu trờ trở nên quang đãng, trong xanh là sang tiết Thanh Minh. Ngày dương lịch: Từ ngày 4 tháng 4 hoặc ngày 5 tháng 4 đến thời gian bắt đầu tiết Cốc vũ. Ý nghĩa: Tiết Thanh Minh từ lâu đã gắn liền với đạo đức, bổn phận con người Việt Nam.
Đây được coi là ngày giỗ tổ chung của dòng họ. Tiết khí này còn gắn liền với tục tảo mộ đầu năm.