Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số vấn đề lý luận 1. Văn hóa Văn hóa (culture) là khái niệm được dùng trong khoa học và đời sống xã hội với nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực, từng trường hợp và thậm chí từng lúc áp dụng. Trên thế giới có hàng trăm định nghĩa về văn hóa.
Định nghĩa chung có tính triết học mà các nhà khoa học thường sử dụng: “ Văn hóa là tất cả những gì do con người làm ra, là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong lịch sử. Văn hóa là hiện tượng xã hội và lịch sử”[30:98]. Văn hóa là một từ Hán Việt (文 化). Trong ngôn ngữ cổ của Trung Quốc, văn là một từ được dùng để chỉ cái vẻ ngoài; hóa là dạy dỗ, sửa đổi phong tục (giáo hóa).
Trung Quốc và cả Việt Nam đã từng dùng tổ hợp “văn trị giáo hóa” theo nghĩa từ nguyên trên đây [4:5,6]. Ở phương Tây, người Pháp, người Anh có từ “culture”, người Đức có từ “kultur”, người Nga có từ “kultura”. Những chữ này có chung gốc La tinh là chữ “cultus animi” có nghĩa là trồng trọt tinh thần [70:18]. Từ thế kỷ XIX, văn hóa thực sự trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học.
Trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” (Primitive Culture) xuất bản năm 1871, E.Tylor đã định nghĩa văn hóa: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm 17 có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”. Như vậy, theo Tylor, văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm do con người tạo ra. Con người ở đây không phải là con người cô độc, sống tách rời nhân loại mà là con người xã hội. Đây chính là ưu điểm trong định nghĩa văn hóa của Tylor.
Tuy nhiên trong định nghĩa này chưa vạch được nội dung văn hóa, nên Tylor còn đồng nhất văn hóa (là tất cả những gì con người tạo ra) với văn minh (một trong những thời kỳ của lịch sử văn hóa). Từ cách hiểu về văn hóa như vậy, cách nghiên cứu của Tylor là xếp loại những hiện tượng, sản phẩm văn hóa và phân chia chúng thành các giai đoạn mà chúng có lẽ phát triển theo đó như thế nào. Chẳng hạn, khi xem xét huyền thoại thì có thể chia và thành huyền thoại về mặt trời mọc, huyền thoại về mặt trời lặn …; xem xét các sản phẩm dệt có thể chia thành đồ bện, đồ đan … Qua đó, để xếp loại những hiện tượng, bộ phận ấy nhằm mục đích phân bố chúng về mặt địa lý hay lịch sử và vạch ra những quan hệ giữa chúng với nhau. Từ sau định nghĩa của E.Tylor, nhiều định nghĩa về văn hóa của các nhà nghiên cứu trên thế giới xuất hiện.
Năm 1952, hai nhà nhân học văn hóa người Mỹ là A.Kluckhohn, trong cuốn “Văn hóa - Tổng thuật có phê phán các quan điểm và định nghĩa” (dẫn theo Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 2001), đã thống kê được khoảng 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa, được phân thành 6 loại cơ bản: định nghĩa mô tả (liệt kê những gì mà khái niệm văn hoá bao hàm), định nghĩa lịch sử (nhấn mạnh tính truyền thống, quá trình kế thừa xã hội), định nghĩa chuẩn mực (định hướng vào lối sống, các 18 quan niệm về lý tưởng và giá trị), định nghĩa tâm lý học (chú trọng đến quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người), định nghĩa cấu trúc (chú trọng đến tổ chức cấu trúc của văn hoá) và định nghĩa phát sinh (văn hoá được xác định từ góc độ nguồn gốc của nó). Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng đã từng phát biểu một quan điểm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [4:10].
Theo Trần Ngọc Thêm, để định nghĩa văn hóa, trước hết cần xác định được những đặc trưng cơ bản của nó. Văn hóa có tính hệ thống và gắn liền với đặc trưng này là chức năng tổ chức xã hội, tính giá trị và chức năng điều chỉnh xã hội; tính nhân sinh và chức năng giao tiếp; tính lịch sử và chức năng giáo dục. Trên cơ sở đó, Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [66:10]. Định nghĩa này đã nhấn mạnh con người chính là chủ thể của văn hóa.
Văn hóa được con người tạo ra trong đời sống hàng ngày qua các sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần, trong mối quan hệ giữa người với người và giữa con người với vạn vật trên trái đất này. 19 Văn hóa được tích tụ và lưu truyền liên tục từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sở dĩ có nhiều định nghĩa về văn hóa như thế là vì mỗi người đứng trên một góc độ, một khía cạnh chuyên môn khác nhau. Tuy được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng theo Trần Ngọc Thêm khái niệm văn hóa bao giờ cũng có thể quy về hai cách hiểu chính, đó là theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian. Theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động … [66:10]. Tín ngưỡng Tín ngưỡng là một từ kép chữ Hán, được Lý Lạc Nghị trong “Tìm về cội nguồn chữ Hán” [23:753], [23:471], tín ngưỡng (信 仰) được giải thích như sau : 20 Ngưỡng ( 仰 ): một bên là một người đứng ngạo mạn và một người quỳ xuống ngẩn cổ mặt nhìn anh ta. Theo Thuyết văn: ngưỡng nghĩa là mong muốn được may mắn.
Ngưỡng là ngẩng đầu. Ý nghĩa là ngẩng đầu ngưỡng vọng, nghĩa mở rộng thành kính ngưỡng mộ. Như vậy, theo từ nguyên của chữ tín (信) và ngưỡng (仰), có thể định nghĩa “tín ngưỡng chính là sự tin tưởng, kính mộ của con người trước một đối tượng siêu nhiên nào đó”. Bởi lẽ trước khi tin tưởng vào sức mạnh, trí tuệ của chính mình, con người cần phải tìm đến một niềm tin nào đó để có thể sống, từ xa xưa, một trong những niềm tin đó chính là sức mạnh siêu nhiên.
Trong tiếng Pháp có từ “croyance”, trong tiếng Anh có từ “belief” đồng nghĩa với từ tín ngưỡng với tư cách phạm trù khoa học. Đại bách khoa toàn thư Anh (The New Encyclopaedia Britanica - London 1988) định nghĩa tín ngưỡng (belief) “là một trạng thái tâm lý trong hoàn cảnh một mệnh đề nào đó không đủ nhận thức lý trí để bảo đảm nó là chân thực mà vẫn tiếp thu hay đồng ý mệnh đề đó” [24:621,622]. 21 Nhà tôn giáo học Mỹ Frederick J. Sreng, trong cuốn sách “Tìm hiểu đời sống tôn giáo” (Understanding religious life) lại viết “Trong hoàn cảnh phức tạp khó giải quyết, do lo sợ hoặc hoài nghi, hay hưng phấn, phần đông người ta thông qua cảm thụ sức mạnh cuả thần thánh mà dần dần ý thức được thần thánh phản ứng hay phản tác dụng, do đó mà hình thành cái mà người ta gọi là tín ngưỡng.
Loại thể nghiệm vừa yêu, vừa sợ, dẫu mang tính nước đôi, cũng không làm tổn hại cho việc thúc đẩy tín đồ thực nghiệm được, chỉ có dựa vào sức mạnh thế giới bên kia mới có sức mạnh cứu rỗi. Tín ngưỡng thực chất là tin tưởng chăc chắn loại sức mạnh này có thể đổi mới cuộc sống của mình” [24:622]. Nhà tôn giáo học Trung Quốc Phùng Thiên Sách, viết trong cuốn “Tín ngưỡng đạo luận” (NXB Quảng Tây, 1962) lại đưa ra một định nghĩa đầy hình ảnh: “tín ngưỡng là mô hình vũ trụ mà con người kiến tạo trong không gian vô tận và thời gian vĩnh hằng, xác định mô hình xã hội và thước đo giá trị trong cuộc sống xã hội phức tạp đầy biến động …” [24:622]. Theo Đào Văn Tập trong “Tự điển Việt Nam phổ thông”: “tín ngưỡng là lòng tin tưởng và ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [78:95].
Trong Hán - Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải thích: “tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa” [78:95]. Như vậy, “tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con người có ý thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc 22 sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [32:22]. Tín ngưỡng và tôn giáo Khi bàn đến “tín ngưỡng”, người ta thường đề cập đến “tôn giáo”. Trong tôn giáo học, người ta thường chia ra 5 dạng tín ngưỡng, tôn giáo nguyên thủy của 5 thời kỳ phát triển kế tiếp nhau trong xã hội cổ, đó là: 1- Thờ vật tổ, tô-tem giáo; 2- Ma thuật; 3- Bái vật giáo; 4- Vật linh giáo; 5- Sa man giáo, giao tiếp giữa người với thần linh, ma quỷ qua nhân vật trung gian [24:621], [24:622].
Trong ngôn ngữ Pháp, chia ra hai từ “croyance” là tín ngưỡng, “réligieuse” là tôn giáo. Như vậy tín ngưỡng và tôn giáo không phải là một [32:20]. Ở phương Tây, tín ngưỡng là niềm tin, đức tin, là một nhân tố góp vào tạo thành tôn giáo (croyance réligieuse: niềm tin tôn giáo) [32:20], họ cho rằng không có niềm tin thì không thành tôn giáo. Ở nước ta, nhiều ý kiến cho rằng tín ngưỡng và tôn giáo là hai nội dung có sự khác biệt nhau.
Tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ hay còn gọi là niềm tin, là điều kiện cần phải có, là điều kiện tiên quyết để cho tôn giáo tồn tại, hay cũng có nghĩa là tôn giáo muốn mở rộng tồn tại, phải cứu cánh ở tín ngưỡng.