mở đầu 1. Sammāsambuddhamatulaṁ -- sasaddhammagaṇuttamaṁ Abhivādiya bhāsissaṁ -- Abhidhammatthasaṅgahaṁ. Tôi xin thành kính đảnh lễ đấng Toàn Giác Vô Song, Giáo Pháp Tối Thƣợng và Giáo Hội Chúng Tăng Cao Quý, và xin nói về những gì đƣợc chứa đựng trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Abhidhammattha-Saṅgaha, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, là tựa của quyển sách nầy.
Theo đúng nghĩa của từng chữ, Abhidhamma là "Giáo Lý Cao Siêu". Attha ở đây là "sự vật". Saṅgaha là một toát yếu, một quyển sách khái lƣợc bao gồm những nét đại cƣơng. Tiếp đầu ngữ "abhi" đƣợc dùng trong nghĩa ƣu thắng, vĩ đại, tuyệt diệu, tối thƣợng, lỗi lạc v.
Dhamma, Pháp, là một danh từ có nhiều ý nghĩa, do căn "dhar", nắm giữ, nâng đỡ. Ở đây danh từ dhamma, pháp, có nghĩa là giáo lý hay lời dạy, giáo huấn. Theo sách Atthasālinī, "abhi" có nghĩa "atireka", cao hơn, vĩ đại hơn, vƣợt lên trên -- hoặc "visiṭṭha", lỗi lạc, thù thắng, đặc biệt, tối thƣợng. Abhidhamma có nghĩa là Giáo Lý Cao Siêu, vì pháp nầy giúp thành tựu Giải Thoát, hay bởi vì pháp nầy vƣợt lên trên, cao hơn giáo lý chứa đựng trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) và Tạng Luật (Vinaya Piṭaka).
Trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) và Tạng Luật (Vinaya Piṭaka) Ðức Phật dùng những danh từ tục đế, chế định, nhƣ ngƣời, thú, chúng sanh v. Trong Tạng Diệu Pháp trái lại, mỗi sự vật đều đƣợc phân tách tỉ mỉ, và Ngài dùng những danh từ trừu tƣợng. Vì để làm tỏ rạng phƣơng pháp luận giải nầy nên gọi là Abhidhamma, Giáo Pháp Cao Siêu, hay Vi Diệu Pháp. Nhƣ vậy, trƣớc tiên, vì thế ƣu thắng của giáo lý hay vì pháp nầy dẫn đến giải thoát, và vì phƣơng pháp phân tách luận giải tuyệt hảo, pháp nầy đƣợc gọi là Abhidhamma, Vi Diệu Pháp hay Thắng Pháp1.
Abhidhamma Piṭaka, Tạng Diệu Pháp, thƣờng gọi là Tạng Luận, gồm bảy bộ là: Dhammasaṅganī, Vibhaṅga, Dhātukathā, Puggalapaññatti, Kathāvatthu, Yamaka và Paṭṭhāna2. Dhammasaṅganī, "Phân Loại các Pháp", bộ Pháp Tụ.3 Bộ nầy chia làm bốn chƣơng là: a. Bộ sách nầy giải thích 22 Tika Mātikās (đoạn kệ ba câu đi liền nhau) và 100 Duka Mātikās (đoạn kệ hai câu đi liền nhau) bao gồm phần tinh túy của Tạng Diệu Pháp. Phần lớn của bộ nầy giải thích ba câu đầu tiên -- Thiện Pháp (Kusalā Dhamma), Bất Thiện Pháp (Akusalā Dhamma) và Bất Ðịnh Pháp (Abyākatā Dhammā)4.
Kể về lƣợng, bộ nầy hơn mƣời bhānavāras (bài), tức là hơn 104,000 chữ5. Vibhaṅga, "Những Tiết Mục", bộ Phân Tích. Bộ nầy chia làm mƣời tám (18) mục. Ba mục đầu, quan trọng hơn tất cả, đề cập đến Khandha (Uẩn), Āyatana (Xứ) và Dhātu (Giới, hay các Nguyên Tố cấu thành vật chất, sắc).
Các mục khác đề cập đến Sacca (Ðế, chân lý), Indriya (Căn, những khả năng kiểm soát), Paccayākāra (Duyên Khởi), Satipaṭṭhāna (nền tảng của Niệm", hay Niệm Xứ), Sammappadhāna (cố gắng tột bậc, Chánh Cần), Iddhipāda (phƣơng tiện thành tựu, hay Thần Túc), Bojjhañga (những yếu tố của trí tuệ, hay Giác Chi), Jhāna (Thiền), Appamaññā (Vô Lƣợng), Magga (Ðạo), Sikkhāpada (Giới Luật), Paṭisambhidā (Tri Kiến Phân Giải), Ñāṇa (Trí Tuệ), Khuddakavatthu (Ðề Mục Phụ Thuộc) và Dhammahadaya (Tinh Chất Chánh Yếu của Chân Lý). Phần lớn những tiết mục nầy gồm ba phần: giải thích theo Kinh (Suttanta), giải thích theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) và giáo lý đại cƣơng (Pañhapucchaka). Bộ nầy gồm ba mƣơi lăm bhānavāras (280,000 chữ). Dhātukathā, "Luận Giải về các Ðại Nguyên Tố", bộ Chất Ngữ, hay Giới Thuyết.
Sách nầy luận: các pháp nầy có nằm hay không nằm trong, liên hợp hay tách rời ra không liên hợp, với các Uẩn (Khandha), các Xứ (Āyatana) và các Giới, hay Ðại Nguyên Tố cấu thành sắc (Dhātu). Bộ nầy gồm mƣời bốn chƣơng, nhiều hơn sáu bhānavāras (48,000 chữ). Puggalapaññatti, "Chỉ Danh Những Cá Tánh", bộ Nhân Chế Ðịnh, hay Nhân Thi Thiết. Về phƣơng pháp trình bày, sách nầy giống nhƣ bộ Tăng Nhứt A Hàm (Anguttara Nikāya) của Tạng Kinh.
Thay vì đề cập đến các Pháp khác nhau, sách nầy đề cập đến những loại có cá tánh khác nhau. Có mƣời chƣơng. Chƣơng đầu đề cập đến những cá tánh đơn độc. Chƣơng nhì các nhóm có hai cá tánh.
Chƣơng ba, các nhóm có ba cá tánh v. Kể về lƣợng, sách nầy hơn năm bhānavāras (40,000 chữ) E. Kathāvatthu, "Những Ðiểm Tranh Luận", bộ Ngữ Tông, hay Biện Giải. Tác giả của bộ sách nầy đƣợc nói là Ðại Ðức Moggalliputta Tissa Thera, đƣợc nổi tiếng thời Vua Dhammāsoka (A Dục).
Chính Ngài chủ tọa cuộc Kết Tập Tam Tạng lần thứ ba tại Pāṭaliputta (Patna) vào thế kỷ thứ III trƣớc Dƣơng Lịch. Tại hội nghị nầy bộ sách của Ngài Moggalliputta đƣợc xếp vào Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka). Bản Chú Giải của tập Atthasālinī ghi nhận rằng bộ nầy gồm một ngàn (1,000) bài Kinh (Suttas): năm trăm (500) là chánh thống, còn năm trăm không hợp với quy tắc chánh truyền. Về lƣợng, bộ nầy lối cỡ bộ Dīgha Nikāya, Trƣờng A Hàm.
Sách đề cập đến 216 điểm tranh luận, và chia làm 23 chƣơng. Yamaka, "Sách Gồm Những Câu Ðƣợc Sắp Xếp Từng Cặp", bộ Song Ðối, hay Song Luận. Gọi nhƣ vậy vì theo phƣơng pháp luận giải của sách nầy, suốt từ đầu đến cuối, luôn luôn có hai câu đi đôi. Một câu hỏi và một câu đối lại, (mệnh đề hoán vị).
Thí dụ cặp đầu của chƣơng đầu đề cập đến "Căn", hay cội rễ, nguồn gốc, lập luận nhƣ sau: "Có phải tất cả các thiện pháp đều là thiện căn không? Và có phải tất cả các thiện căn đều là thiện pháp không?" Bộ nầy chia làm mƣời chƣơng là: Mūla (Căn, hay cội rễ), Khandha (Uẩn), Āyatana (Xứ, hay thành phần có liên hệ đến giác quan, lục căn), Dhātu (Giới, hay nguyên tố cấu thành vật chất, sắc), Sacca (Ðế, hay chân lý), Saṅkhāra (vật cấu tạo, hay pháp Hữu Vi), Anusaya (Tiềm Thùy, tâm tánh tiềm ẩn ngủ ngầm trong luồng nghiệp của chúng sanh), Citta (Tâm Vƣơng), Dhamma (Pháp), và Indriya (khả năng kiểm soát, cũng gọi là Căn hay Quyền). Sách gồm 120 bhānavāras (960,000 chữ) G. Paṭṭhāna, "Sách Luận về Tƣơng Quan Duyên Hệ", bộ Ðại Xứ, hay Nhân Duyên Thuyết. Ðây là quyển sách quan trọng nhất mà cũng to lớn nhất của Tạng Diệu Pháp.
Ngƣời nhẫn nại đọc sách nầy chỉ có thể khâm phục trí năng cao thâm và tuệ minh sát sâu sắc của Ðức Phật. Chắc chắn rằng muốn làm nên đƣợc một bản khái luận vừa thâm sâu vừa rộng rãi nhƣ vậy tức nhiên phải là bậc trí thức kỳ tài xuất chúng. Danh từ Paṭṭhāna gồm tiếp đầu ngữ "pa", có nghĩa là khác nhau, và "ṭhāna", mối tƣơng quan, hay duyên (paccaya). Gọi nhƣ vậy vì pháp nầy đề cập đến 24 phƣơng thức tƣơng quan duyên hệ6, những đoạn ba câu (tika), và những đoạn hai câu (duka), đã nói đến trong bộ Dhammasaṅganī.
Ðây là phần tinh hoa của Tạng Diệu Pháp. Ta có thể đoán đƣợc tầm quan trọng của bản khái luận nầy -- cũng đƣợc gọi là "Mahā Pakaraṇa", quyển sách lớn, hay Ðại Tạng -- xuyên qua những lời chú giải của tập Atthasālinī nhƣ sau: "Và trong khi Ngài suy niệm về những tiết mục của bộ Dhammasaṅganī thân Ngài không có tỏa hào quang. Cùng thế ấy, khi Ngài suy niệm về năm bộ kia (thân Ngài không tỏa hào quang). Nhƣng đến quyển Ðại Tạng, Mahā Pakaraṇa, khi Ngài bắt đầu suy niệm đến 24 liên hệ tƣơng quan phổ thông của duyên7 , sự trình bày v.
đức tánh Toàn Tri của Ngài chắc chắn đã tìm đƣợc cơ hội trong đó8. -ooOoo- ABHIDHAMMATTHĀ - Ðề Tài 2. Tattha vutt' ābhidhammatthā -- catudhā paramatthato Cittaṁ cetasikaṁ rūpaṁ -- Nibbānam' iti sabbathā. Trong ý nghĩa cùng tột, đề tài của Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) ghi nhận trong tập nầy, đƣợc phân làm bốn tất cả: 1) Tâm vƣơng, 2) Tâm sở, 3) Sắc, 4) Niết Bàn.
Thực tại: Có hai thực tại. Thực tại bề ngoài, hay tục đế, và thực tại cùng tột, chân đế, hay đệ nhất nghĩa đế. Thực tại bề ngoài là chân lý chế định, quy ƣớc, thực tại thông thƣờng của thế gian (sammuti sacca). Thực tại cùng tột là chân lý tuyệt đối, trừu tƣợng (paramattha sacca).
Thí dụ, mặt phẳng của cái bàn mà ta nhìn thấy là thực tại bề ngoài, tục đế. Nhƣng hiểu một cách rốt ráo, khi thấu đến ý nghĩa cùng tột của nó, cái mặt bàn mà ta thấy bề ngoài bằng phẳng ấy gồm những năng lực và những đặc tánh, hay nói cách khác gồm những rung động. Trong sự giao dịch thông thƣờng hằng ngày, nhà khoa học dùng danh từ "nƣớc", nhƣng trong phòng thí nghiệm, nhà khoa học gọi là H2O. Cùng thế ấy, trong Tạng Kinh (Sutta Piṭaka) Ðức Phật dùng danh từ thông thƣờng nhƣ ngƣời, đàn ông, đàn bà, chúng sanh v.
nhƣng trong Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭaka) Ngài dùng một lối diễn đạt khác. Ở đây Ngài áp dụng phƣơng pháp phân giải và dùng những danh từ trừu tƣợng nhƣ Khandha (Uẩn, thành phần cấu tạo chúng sanh), Dhātu (Giới, những nguyên tố, thành phần cấu tạo "sắc", phần vật chất của chúng sanh), Āyatana (Xứ, thành phần có liên quan đến giác quan: lục căn, lục trần) v. Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) danh từ para- mattha có nhiều nghĩa. Ðó là một danh từ kép gồm hai phần: parama và attha.
"Parama" đƣợc giải thích là cái gì không thể biến chất, không thể biến đổi hay trở thành một cái gì khác (aviparīta), là trừu tƣợng (nibbaṭṭita); "Attha" là vật. Vậy, paramattha là vật không thể biến chất, hay trừu tƣợng. Thực tại trừu tƣợng đƣợc xem là gần ý nghĩa với danh từ paramattha nhất. Mặc dầu ở đây dùng danh từ "không biến đổi" nhƣng phải hiểu rằng không phải tất cả paramatthas đều vĩnh viễn hay thƣờng còn.
Thí dụ nhƣ một cái lọ bằng đồng. Ðó không phải là paramattha vì bản chất của cái lọ đổi thay từng khoảnh khắc và chính nó cũng có thể đƣợc nhồi nắn lại để trở thành một cái gì khác hơn cái lọ -- cái bồn chẳng hạn. Cả hai vật ấy, cái lọ và cái bồn, đều có thể đƣợc phân tách và rút gọn đến mức cùng tột thành những năng lực và những đặc tánh vật chất căn bản mà Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) gọi là Rūpa Paramattha. Những thực tại nầy cũng vô thƣờng, phải biến đổi.
Tuy nhiên, những đặc tánh cá biệt của vật chất (sắc) ấy đồng nhất thể trong hai vật, cái lọ và cái bồn. Nó vẫn giữ trọn vẹn thực chất của nó mặc dầu ta có thể pha trộn cách nào. Do đó Bản Chú Giải định nghĩa parama là không biến chất hay thực tại nguyên vẹn. Danh từ 'attha' phù hợp một cách chính xác với Anh ngữ có nhiều ý nghĩa "thing" (vật).
Ở đây không thể dịch "attha" là "có nghĩa". Có bốn paramatthas, hay thực tại trừu tƣợng nhƣ thế. Bốn thực tại nầy bao gồm tất cả những gì tại thế và siêu thế. Cái đƣợc gọi chúng sanh là tại thế.
Niết Bàn là siêu thế. Chúng sanh đƣợc cấu thành do hai phần: phần tâm linh (nāma, danh) và phần vật chất (rūpa, sắc).