Tiểu Thuyết Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới Nhìn Từ Đặc Trưng Phản Ánh Nghệ Thuật

Tài liệu nghiên cứu Tiểu thuyết việt nam thời kì đổi mới nhìn từ đặc trưng phản ánh nghệ thuật, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

0.7. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Về đặc trưng của phản ánh nghệ thuật

1.2. Quan niệm về phản ánh nghệ thuật trong mỹ học và lý luận văn học nước ngoài

1.3. Vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật ở Việt Nam

1.4. Về tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHẢN ÁNH NGHỆ THUẬT VÀ SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TƯ DUY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

2.1. Khả năng của tiểu thuyết trong phản ánh nghệ thuật

2.2. Khái niệm phản ánh và mô phỏng

2.3. Tính ưu trội của thể loại tiểu thuyết trong phản ánh

2.4. Những thay đổi trong tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

2.5. Tư duy tiểu thuyết Việt Nam trước 1986

2.6. Sự thay đổi tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: Ý THỨC VỀ THỰC TẠI TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

3.1. Những khám phá về thực tại đời sống trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

3.2. Thực tại phi lý, bất định

3.3. Thực tại như trò chơi

3.4. Thực tại như là quá trình

3.5. Những khám phá về bản thể tồn tại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

3.6. Con người cô đơn, bất an

3.7. Con người bản năng, vô thức

3.8. Con người tâm linh

3.9. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: Ý THỨC KIẾN TẠO BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1986

4.1. Khái quát chung về tính ký hiệu của tác phẩm và biểu tượng trong văn học. Tính ký hiệu của tác phẩm văn học. Biểu tượng trong tác phẩm văn học

4.2. Các lớp biểu tượng trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

4.3. Nhan đề mang tính biểu tượng

4.4. Nhân vật mang tính biểu tượng

4.5. Không – thời gian mang tính biểu tượng

4.6. Từ ngữ, hình ảnh biểu tượng

4.7. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tiểu Thuyết Việt Nam Thời Đổi Mới 1986

Phản ánh nghệ thuật là vấn đề cốt lõi của mỹ học và lý luận văn học. Từ khi nghệ thuật ra đời, vấn đề này luôn thu hút sự quan tâm. Hiểu rõ đặc trưng của phản ánh nghệ thuật giúp khẳng định sự tồn tại của nghệ thuật trong xã hội. Đồng thời, nó giúp người làm nghệ thuật có hướng đi đúng đắn, phù hợp với hiện thực. Phản ánh nghệ thuật cũng là căn cứ để đánh giá thành tựu và hạn chế của từng giai đoạn văn học. Trong đó, tiểu thuyết đóng vai trò quan trọng. Bakhtin từng nói: “Tiểu thuyết có thể làm cứ liệu để ước đoán những tiền đồ phát triển xa xăm và to lớn của văn học”. Với tính chất tổng hợp cao, tiểu thuyết có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn và đi sâu khám phá đời tư, tâm hồn con người. Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), sự nghiệp đổi mới đã ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm và tư duy sáng tạo của văn nghệ sĩ. Sự thay đổi trong quan niệm về giá trị và bản chất nghệ thuật tạo nên những chuyển biến của văn học, đặc biệt là tiểu thuyết. Tiểu thuyết trở thành thể loại tiên phong trong tiến trình cách tân, đổi mới. Thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu là những người mở đường. Tiếp nối, thế hệ nhà văn sau Đổi mới như Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Dương Hướng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Đình Tú đã trở thành lực lượng sáng tác trụ cột. Một số cây bút thuộc thế hệ trước tái xuất như Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Bùi Ngọc Tấn, và một số cây bút đến muộn như Mạc Can, Đỗ Phấn cũng đã trình làng nhiều tác phẩm ấn tượng. Tất cả góp phần tạo nên diện mạo mới của nền văn học nước nhà.

1.1. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Phản Ánh Nghệ Thuật

Nghiên cứu phản ánh nghệ thuật là cần thiết vì nó giúp hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, khi các nhà văn tìm kiếm những phương thức mới để phản ánh xã hội đang thay đổi. Nghiên cứu này cũng giúp đánh giá thành tựu và hạn chế của từng giai đoạn văn học, từ đó định hướng cho sự phát triển của văn học trong tương lai. Việc giảng dạy văn học hiện đại trong các trường học cũng đòi hỏi những nghiên cứu cập nhật về các hiện tượng văn học nổi bật và các quy luật chung liên quan đến tư duy sáng tạo.

1.2. Mục Tiêu Và Phạm Vi Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Đổi Mới

Luận án tập trung nghiên cứu sự vận động của tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 đến nay từ góc nhìn đặc trưng phản ánh nghệ thuật. Phạm vi lý thuyết: Vận dụng chủ yếu các quan điểm của các nhà mỹ học marxist hiện đại như Lukács, Caudwell, Goldman, Fischer. Bên cạnh đó, sử dụng quan điểm của các nhà triết học, ngôn ngữ học hiện đại để làm cơ sở cho các diễn giải. Phạm vi tác phẩm khảo sát: Tập trung khảo sát tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Tuy nhiên, chỉ lựa chọn, đi sâu khảo sát, phân tích những tiểu thuyết tiêu biểu, đã được các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao và tạo được hiệu ứng trong dư luận. Trong số những tác phẩm được cho là tiêu biểu, tập trung hơn vào những tiểu thuyết có khuynh hướng cách tân, thể nghiệm.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Phản Ánh Hiện Thực Đổi Mới

Trước những thành tựu mà văn học Đổi mới đạt được, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khám phá ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở đây chúng tôi muốn phân tích, đánh giá những thành tựu đó ở phương diện đặc trưng phản ánh nghệ thuật để xem sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 vừa biểu hiện, vừa vượt lên những giới hạn của lý thuyết phản ánh như thế nào. Từ đó góp phần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, nhà văn với đời sống. Tìm hiểu sự đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 nhìn từ đặc trưng phản ánh nghệ thuật còn là dịp để nhìn nhận lại phần nào diện mạo của nền văn học Việt Nam nói chung và diện mạo của thể loại tiểu thuyết nói riêng sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, từ đó thấy rõ hơn sự vận động của tư duy tiểu thuyết và những chuyển biến trong tư duy lý luận về mối quan hệ giữa văn học và thực tại. Mặt khác, hiện nay ở đại học cũng như ở các trường phổ thông trung học, việc giảng dạy thời sự văn học ngày càng được quan tâm với những yêu cầu cập nhật hơn. Vì thế, luận án là một nổ lực góp phần giải quyết yêu cầu đó bằng việc khảo sát các hiện tượng văn học nổi bật, các quy luật chung liên quan đến tư duy sáng tạo cũng như sự tiếp nhận của công chúng. Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới nhìn từ đặc trưng phản ánh nghệ thuật.

2.1. Giới Hạn Của Lý Thuyết Phản Ánh Truyền Thống

Lý thuyết phản ánh truyền thống đôi khi không đủ để giải thích sự phức tạp của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986. Các nhà văn không chỉ đơn thuần phản ánh hiện thực mà còn sáng tạo ra những thế giới riêng, những biểu tượng và ẩn dụ để diễn tả những trải nghiệm và cảm xúc của con người. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới, linh hoạt hơn để hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.

2.2. Sự Vận Động Của Tư Duy Tiểu Thuyết Đương Đại

Tư duy tiểu thuyết Việt Nam đã có những chuyển biến đáng kể sau Đổi mới. Các nhà văn không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc và khuôn mẫu truyền thống mà tự do khám phá những chủ đề mới, những phong cách viết mới. Sự vận động này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải liên tục cập nhật kiến thức và phương pháp để theo kịp sự phát triển của văn học.

2.3. Yêu Cầu Cập Nhật Trong Giảng Dạy Văn Học Đổi Mới

Việc giảng dạy văn học hiện đại trong các trường học cần được cập nhật để phản ánh những thay đổi trong văn học Việt Nam. Sinh viên và học sinh cần được tiếp cận với những tác phẩm mới, những lý thuyết mới để hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học và vai trò của nó trong xã hội.

III. Phương Pháp Tiếp Cận Đặc Trưng Phản Ánh Nghệ Thuật Hiệu Quả

Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp loại hình; Phương pháp hệ thống; Phương pháp văn hóa - lịch sử; Phương pháp so sánh. - Phương pháp loại hình chú ý đến quan hệ cộng đồng giá trị, giúp nắm bắt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ tổng thể, bao quát, xác định quy luật phát triển của các sự vật, hiện tượng. Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong luận án nhằm nhận diện, phân loại tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 theo các mô hình hiện thực tiêu biểu. - Phương pháp hệ thống chú ý đến những biểu hiện đa dạng và thống nhất của mối quan hệ giữa văn học và hiện thực qua tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986. - Phương pháp văn hóa - lịch sử dùng để khảo sát quá trình hình thành của lý thuyết phản ánh (điều kiện triết học, kinh tế - xã hội, văn hóa - nghệ thuật) và nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc trong tiểu thuyết theo lý thuyết phán ánh. - Phương pháp so sánh dùng để so sánh quan điểm giữa các nhà mỹ học Mác - xít về đặc trưng phản ánh nghệ thuật; nghiên cứu những tương đồng và khác biệt trong tư duy nghệ thuật của các tác giả tiêu biểu cùng giai đoạn và với các giai đoạn trước 1986. - Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như: tổng hợp, thống kê, hệ thống hóa, khái quát hóa… kết hợp, hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu nêu trên.

3.1. Phương Pháp Loại Hình Trong Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Việt Nam

Phương pháp loại hình giúp phân loại tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 theo các mô hình hiện thực tiêu biểu. Điều này cho phép các nhà nghiên cứu xác định những đặc điểm chung và riêng của từng loại hình tiểu thuyết, từ đó hiểu rõ hơn về sự phát triển của thể loại này.

3.2. Phương Pháp Hệ Thống Và Mối Quan Hệ Văn Học Hiện Thực

Phương pháp hệ thống giúp các nhà nghiên cứu chú ý đến những biểu hiện đa dạng và thống nhất của mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Điều này cho phép họ hiểu rõ hơn về cách các nhà văn phản ánh xã hội và con người trong tác phẩm của mình.

3.3. Phương Pháp Văn Hóa Lịch Sử Và Lý Thuyết Phản Ánh

Phương pháp văn hóa - lịch sử giúp các nhà nghiên cứu khảo sát quá trình hình thành của lý thuyết phản ánh và nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc trong tiểu thuyết theo lý thuyết phản ánh. Điều này cho phép họ hiểu rõ hơn về bối cảnh xã hội và văn hóa đã ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học.

IV. Ứng Dụng Đánh Giá Đổi Mới Nghệ Thuật Tiểu Thuyết Sau 1986

Về lý luận, luận án tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới từ lý thuyết phản ánh, một lý thuyết đã có khoảng thời gian dài khảo chứng ở Việt Nam. Dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng lý thuyết phản ánh luôn cho thấy tính quy luật đặc thù của sáng tạo nghệ thuật. Với những kiến giải của luận án, chúng tôi mong góp thêm những hiểu biết về phản ánh nghệ thuật, từ đó chỉ ra mối quan hệ giữa quy luật phản ánh và ý thức sáng tạo của nhà văn. - Về thực tiễn, luận án là sự bàn thêm, bàn sâu để nhận diện rõ hơn sự vận động cũng như đặc điểm loại hình của tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới. Với những phân tích cụ thể, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho dạy học Ngữ văn trong các trường Đại học, Cao đẳng hay những nghiên cứu cụ thể về tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới.

4.1. Đóng Góp Về Lý Luận Mối Quan Hệ Giữa Phản Ánh Và Sáng Tạo

Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa quy luật phản ánh và ý thức sáng tạo của nhà văn. Điều này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách các nhà văn sử dụng lý thuyết phản ánh để tạo ra những tác phẩm độc đáo và sáng tạo.

4.2. Đóng Góp Về Thực Tiễn Tài Liệu Tham Khảo Cho Nghiên Cứu Văn Học

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho dạy học Ngữ văn trong các trường Đại học, Cao đẳng hay những nghiên cứu cụ thể về tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới. Điều này giúp các nhà nghiên cứu và sinh viên có thêm nguồn tài liệu để tìm hiểu về sự phát triển của văn học Việt Nam.

4.3. Ý Nghĩa Lý Luận Và Thực Tiễn Của Luận Án

Về lý luận, luận án không chỉ góp phần làm sáng tỏ hơn bản chất của đặc trưng phản ánh nghệ thuật mà còn hướng tới một cái nhìn có tính chất động về nội hàm các khái niệm quen thuộc như: khái niệm hiện thực, khái niệm phản ánh/mô phỏng. Về thực tiễn, kết quả luận án hướng tới sẽ góp phần phác thảo rõ nét hơn bức tranh nhiều gam màu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, khẳng định những thành tựu bước đầu của quá trình đổi mới, cách tân thể loại như một quy luật tất yếu và phù hợp.

V. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Tiểu Thuyết Đổi Mới

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án - Về lý luận, luận án không chỉ góp phần làm sáng tỏ hơn bản chất của đặc trưng phản ánh nghệ thuật mà còn hướng tới một cái nhìn có tính chất động về nội hàm các khái niệm quen thuộc như: khái niệm hiện thực, khái niệm phản ánh/mô phỏng. - Về thực tiễn, kết quả luận án hướng tới sẽ góp phần phác thảo rõ nét hơn bức tranh nhiều gam màu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, khẳng định những thành tựu bước đầu của quá trình đổi mới, cách tân thể loại như một quy luật tất yếu và phù hợp.

5.1. Tổng Kết Về Đặc Trưng Phản Ánh Nghệ Thuật

Luận án đã làm sáng tỏ hơn bản chất của đặc trưng phản ánh nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới. Điều này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về cách các nhà văn phản ánh xã hội và con người trong tác phẩm của mình.

5.2. Triển Vọng Nghiên Cứu Tiểu Thuyết Việt Nam Đương Đại

Luận án mở ra những hướng nghiên cứu mới về tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục khám phá những chủ đề mới, những phong cách viết mới và những mối quan hệ giữa văn học và xã hội.

06/06/2025
Tiểu thuyết việt nam thời kì đổi mới nhìn từ đặc trưng phản ánh nghệ thuật

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, Ernst Fischer đã khẳng định: “Kafka là nhà văn nổi loạn lớn, người mà chúng ta, những người Mác - xít, đã trao cho giai cấp tư sản thời gian quá lâu” [51, tr. Trong hệ thống những quan điểm mà Fischer trình bày trong suốt bài phát biểu, chúng tôi nhận thấy, ông đã có nhiều ý kiến quan trọng thể hiện cái nhìn mới mẻ về khái niệm hiện thực nói riêng và rộng hơn là mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Để trả lời cho câu hỏi: Kafka có phải là nhà văn hiện thực hay không?, ông viết: “Nhiều nhà nghiên cứu Mác - xít trả lời rằng ông không phải là nhà văn hiện thực. Tôi không thích việc chúng ta buộc các nhà văn lớn phải chui đầu vào những đề mục.

Tôi có thể nói điều này bằng thuật ngữ duy danh là trời sinh sự, quỷ sinh đề mục. Chỉ có cái gì tầm tầm thì mới vừa với đề mục, cái bất thường làm cho nó bật tung ra” [51, tr. Từ đó Fischer có những lời bàn sâu sắc về chủ nghĩa hiện thực: “Và khi chúng ta nói hiện thực thì chúng ta hiểu gì ở khái niệm này? Phải chăng chỉ có thế giới bên ngoài mới được xem là hiện thực và chức năng của nhà văn là phản ánh cái hiện thực nguyên vẹn này hay chính tấm gương cũng thuộc về hiện thực, cái tấm gương sống động, năng nổ và thường thay đổi vị trí của nó? Phải chăng các phương thức khác nhau làm nên ấn tượng chủ quan về thế giới bên ngoài không phải là yếu tố cơ bản của hiện thực? Phải chăng chỉ có cái do con người làm nên mới là hiện thực, hoặc chỉ có cái mà con người gây ra cho nhau hay hiện thực còn là cái người ta mơ tưởng, dự cảm, cảm nhận, cái chưa có trong hiện tại hoặc cái đang có mà không nhìn thấy được, nhờ nó mà bây giờ, ở đây con người có cái gì đó đang vượt lên các sự việc? Phải chăng chiều kích thứ tư, cái sẽ có, cái có khả năng, bằng sự lấp lánh bí ẩn hay như cái bóng đang lơ lửng trong hiện tại lại không thực hơn so với cái gọi là các dữ kiện được nắm bắt cụ thể? Phải chăng cái thứ hạng của hiện thực mà nhà văn dựng lên khi anh ta từ bỏ cái thứ yếu đối với mình và sáng tạo nên cái thực chất theo con mắt của mình, là bất biến? Hay cái thứ hạng này của hiện 11 thực thay đổi với tình huống xã hội và cá nhân thuộc mọi thời đại? Phải chăng không thể có cái mà ở một tình huống nào đó chỉ là phần phụ thì trong tình huống khác, nó trở thành nhân tố chính rọi ánh sáng lên những phạm vi cơ bản của hiện thực?” [51, tr. Đến đây, chúng ta có đủ căn cứ để khẳng định, bằng hàng loạt câu hỏi tu từ cũng đồng thời là những câu trả lời, kiến giải của Fischer về khái niệm hiện thực đã đem đến cho độc giả một cái nhìn tương đối đầy đủ, trọn vẹn về khái niệm này.

Fischer không chỉ mở rộng tối đa chiều kích của khái niệm hiện thực mà ông còn nhấn mạnh cái chiều kích thứ tư của hiện thực mà ông gọi là “sự lấp lánh bí ẩn hay như cái bóng đang lơ lửng” mới thực sự là cái hiện thực toàn vẹn nhà văn cần khám phá. Từ việc thay đổi quan niệm về khái niệm hiện thực, Fischer cũng coi khả năng khám phá hiện thực chính là tiêu chí quan trọng để đánh giá một nhà văn lớn và Kafka chính là một trường hợp như vậy. Từ những khảo sát trên đây, chúng tôi nhận thấy, dù đã có những thay đổi đáng kể trong tư duy lý luận văn học từ các nhà kinh điển đến các nhà mỹ học marxist hiện đại về vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật, nhưng nhìn chung đến trước thế kỉ XX, hầu hết các quan điểm đều dựa trên nền tảng triết học duy vật với niềm tin rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan như nó vốn có và quá trình nhận thức đó là trực tiếp, không qua bất kì một khâu trung gian nào. Điều đó cũng có nghĩa là họ chưa xác định đúng vai trò của ngôn ngữ trong mối quan hệ giữa văn học và hiện thực.

Thế kỉ XX, nhân loại đạt được những thành tựu vĩ đại trên nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên cho đến khoa học xã hội. Với sự ra đời của thuyết tương đối, thuyết lượng tử, nguyên tắc bất định,. với những bước tiến vượt bậc của triết học, ngôn ngữ và tâm lí học, nhân loại trở lại trạng thái hoài nghi về khả năng nhận thức thế giới khách quan, sức mạnh phổ quát của lí trí không còn đủ sức thuyết phục. Cuộc cách mạng ngôn ngữ đã làm thay đổi nhận thức của nhân loại về vai trò của ngôn ngữ đối với tư duy con người.

Kể từ đây, thay cho cách hiểu giản đơn, xem ngôn ngữ chỉ là một thứ công cụ biểu đạt, con người đã nhận ra ngôn ngữ chính là phương thức tồn tại của con người. Trong công trình Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916), Saussure nhấn mạnh bản chất xã hội của ngôn ngữ. Theo ông, ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu, thống nhất giữa hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Trong đó, cái biểu đạt phụ thuộc và được quyết định bởi quy ước của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ; song song tồn tại hai trục quan hệ: trục ý nghĩa là quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, trục giá trị là quan hệ giữa những hệ thống ký 12 hiệu với nhau.

Kế thừa quan điểm của F. de Saussure, các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như B. Ây-khen-ba-um, L. I-a-cu-bin-xki, E.

Pô-li-va-nốp. khẳng định văn học là một thế giới độc lập, có những quy luật nội tại riêng biệt. Từ đây, các nhà hình thức chủ nghĩa hướng tới triệt tiêu toàn diện mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, chỉ quan tâm đến văn bản và đặc trưng cấu trúc của nó để kiến giải nghĩa của văn bản [175, tr. Nếu chủ nghĩa cấu trúc khẳng định sự tương ứng hoàn toàn giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì hậu cấu trúc luận lại hoài nghi điều đó.

Các nhà giải cấu trúc cho rằng cái biểu đạt không phải để biểu đạt cái được biểu đạt mà là một hoặc một chuỗi cái biểu đạt khác. Họ cho rằng, ngôn ngữ không phải là phương tiện biểu hiện tư duy, phản ánh hiện thực khách quan, ngược lại: “ngôn ngữ quyết định tư duy của con người và quá trình nhận thức nói chung, qua đó quyết định cả nền văn hóa và hành vi xã hội của con người, thế giới quan và toàn bộ bức tranh thế giới nảy sinh trong ý thức” [129, tr. Và như vậy, đọc một tác phẩm văn học không chỉ dừng lại ở việc truy tìm cấu trúc nội tại của tác phẩm đó nữa, mà chủ yếu là mượn “mã” của nó để phá vỡ cấu trúc, giải cơ cấu, tìm ý nghĩa tác phẩm. Theo đó, văn bản văn học không quy chiếu về thế giới mà quy chiếu đến vô vàn các văn bản khác xung quanh nó: “Sự quy chiếu không có thực tại; cái người ta gọi là thực tế chỉ là một mã.

Mục đích của mimesis không còn là tạo một ảo tưởng về thế giới thực nữa, mà là tạo một ảo tưởng diễn ngôn chân thực về thế giới thực” [5, tr. Thuật ngữ “liên văn bản” do Julia Kristeva đưa ra lần đầu tiên vào năm 1967 dựa trên cơ sở quan niệm về tính đối thoại của Bakhtin ra đời trong thời điểm này. Trong tâm thế đổ vỡ hoàn toàn niềm tin về nhận thức, chủ nghĩa hậu hiện đại có những tác động lớn đến văn học. Các nhà văn ảnh hưởng bởi trào lưu hậu hiện đại chủ trương chống lại những cố gắng khôi phục trật tự mà các nhà hiện đại bằng cách này hay cách khác đã làm.

Họ đã tạo lập một cảm quan mới về thế giới: cảm quan hậu hiện đại (postmodern sensibility) như một kiểu cảm nhận thế giới là một sự hỗn độn [135, tr. Với họ, “tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế không phải là gì khác hơn chính sự hình dung về nó, sự hình dung vốn phụ thuộc vào việc người quan sát lựa chọn nhìn điểm nào và sự thay đổi điểm nhìn dẫn tới sự thay đổi cơ bản chính sự hình dung ấy. Vậy là tiếp nhận của con người buộc phải “đa viễn cảnh”, luôn luôn thấy những dạng thức biến đổi như kính vạn hoa, và thực tại trong sự thay đổi chớp nhoáng ấy không cho con người cái khả năng nắm bắt bản chất của nó, những quy luật và những dấu hiệu cơ bản của nó” [135, tr. Với cách nhìn thực tại như vậy, các nhà văn hậu hiện đại chủ trương kiến tạo một “hiện thực 13 thậm phồn”.

Nói cách khác, họ chủ trương kiến tạo “những bản sao không có bản gốc”, cắt rời trần thuật, xóa bỏ triệt để dấu vết không gian và thời gian, thậm chí xỏa bỏ, tẩy trắng cả những dấu vết của nhân vật trong tác phẩm. Qua việc khảo sát quan điểm mỹ học và lý luận văn học truyền thống cũng như quan điểm, ý kiến của các nhà lý luận marxist phương Tây hiện đại và soi chiếu vấn đề phản ánh dưới ánh sáng của triết học ngôn ngữ, một mặt, chúng ta nhận thấy vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật không chỉ là mối quan tâm đặc biệt của những nhà nghiên cứu, lý luận phê bình nghệ thuật mà cả các cá nhân nghệ sĩ và những người quan tâm đến văn học. Mặt khác, ta cũng nhìn thấy được sự chuyển biến, khác biệt trong quan niệm về đặc trưng phản ánh nghệ thuật ở từng giai đoạn lịch sử. Vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật ở Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề đặc trưng phản ánh nghệ thuật cũng đã được đặt ra dưới những hình thức khác nhau.

Thành tựu của mỹ học nước nhà có sự khởi điểm chủ yếu từ khi bước sang thế kỷ XX. Tuy những quan điểm về mỹ học, cụ thể là những ý kiến bàn về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đã được manh nha từ thời trung đại. Nửa đầu thế kỷ XX, khi văn hóa phương Tây bắt đầu ảnh hưởng sâu rộng đối với văn hóa Việt Nam, nền văn học dân tộc bắt đầu chuyển mình theo hướng hiện đại hóa, đâu đó ta cũng bắt gặp những ý kiến của các học giả bàn về nghệ thuật nói chung, trong đó, ít nhiều có đề cập đến vấn đề đặc trưng của phản ánh nghệ thuật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tiểu Thuyết Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới: Đặc Trưng Phản Ánh Nghệ Thuật" khám phá những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, nhấn mạnh sự chuyển mình của nghệ thuật và tư duy sáng tạo trong bối cảnh xã hội thay đổi. Tác phẩm không chỉ phản ánh những biến động lịch sử mà còn thể hiện sự đa dạng trong phong cách và chủ đề, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam trong thời kỳ này.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ văn học tiểu thuyết của khuất quang thụy trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết viết về chiến tranh, nơi phân tích sâu sắc về tiểu thuyết viết về chiến tranh trong bối cảnh đổi mới. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ tiểu thuyết lê lựu thời kỳ đổi mới cũng cung cấp cái nhìn thú vị về một tác giả tiêu biểu trong giai đoạn này. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Sự vận động trong truyện ngắn ma văn kháng, tài liệu này sẽ giúp bạn nắm bắt được những xu hướng mới trong thể loại truyện ngắn. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn đào sâu hơn vào văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.