Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Lý luận văn học (mã số 9 22 01 20) của nghiên cứu sinh Đặng Ngọc Khương với đề tài "Tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới nhìn từ đặc trưng phản ánh nghệ thuật" được thực hiện tại Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (năm 2020), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Trương Đăng Dung và TS Đỗ Hải Ninh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phản ánh nghệ thuật là một trong những vấn đề trung tâm của mỹ học và lý luận văn học từ thời cổ đại đến nay. Việc nhận thức đúng đặc trưng phản ánh nghệ thuật có ý nghĩa khẳng định vị trí của nghệ thuật trong đời sống xã hội, hỗ trợ xác lập mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực khách quan, đồng thời là cơ sở đánh giá thành tựu văn học qua từng thời kỳ. Trong hệ thống thể loại văn học, tiểu thuyết giữ vị trí trung tâm, có khả năng bao quát bức tranh đời sống xã hội rộng lớn và đi sâu khám phá các bình diện tâm hồn, đời tư cá nhân.

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), công cuộc Đổi mới toàn diện đã tác động trực tiếp đến tư duy sáng tạo của đội ngũ nhà văn Việt Nam. Quá trình vận động của tiểu thuyết sau năm 1986 có sự tham gia của nhiều thế hệ: thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu...), thế hệ xuất hiện sau Đổi mới (Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Dương Hướng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Đình Tú...), các cây bút tái xuất (Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên, Bùi Ngọc Tấn) và các tác giả xuất hiện muộn (Mạc Can, Đỗ Phấn). Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: khảo sát, phân tích các thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 dưới góc độ đặc trưng phản ánh nghệ thuật nhằm chỉ ra cách thể loại này biểu hiện và vượt qua những giới hạn của lý thuyết phản ánh truyền thống, từ đó làm sáng tỏ sự vận động của tư duy tiểu thuyết và mối quan hệ giữa văn học với hiện thực trong bối cảnh đương đại. Bên cạnh đó, luận án đáp ứng yêu cầu cập nhật tri thức phục vụ giảng dạy thời sự văn học ở bậc đại học và trung học phổ thông.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ sự thay đổi trong nhận thức về phản ánh hiện thực dẫn đến sự thay đổi trong nghệ thuật tiểu thuyết; từ đó nhận diện những đặc điểm mang tính quy luật của phản ánh nghệ thuật thời kỳ Đổi mới và làm rõ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Để đạt mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận phản ánh, chỉ ra những đặc điểm nổi bật của lý thuyết phản ánh nghệ thuật và việc vận dụng lý thuyết này trong bối cảnh hiện đại.
  2. Soi chiếu vào các hiện tượng văn học cụ thể nhằm làm nổi bật các phương thức phản ánh nghệ thuật gắn liền với quan điểm nghệ thuật của từng tác giả.
  3. Đánh giá những đặc điểm phản ánh mang tính quy luật cùng sự vận động, đổi mới về mặt thể loại của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự vận động của tư duy tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới từ góc nhìn đặc trưng phản ánh nghệ thuật.
  • Phạm vi lý thuyết: Tập trung vào quan điểm của các nhà mỹ học marxist hiện đại (G. Lukács, Ch. Caudwell, L. Goldmann, E. Fischer, P. Macherey, R. Garaudy) kết hợp với các lý thuyết triết học, ngôn ngữ học, ký hiệu học và thi pháp học hiện đại (F. de Saussure, M. Bakhtin, J. Kristeva, R. Barthes, chủ nghĩa hậu hiện đại).
  • Phạm vi văn bản khảo sát: Các tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020, được giới phê bình ghi nhận, tạo hiệu ứng xã hội, ưu tiên các tác phẩm có khuynh hướng tìm tòi, thể nghiệm và cách tân hình thức nghệ thuật.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng thuật hai nhánh tư liệu nghiên cứu lớn gắn liền với đề tài: lý thuyết phản ánh nghệ thuật trong và ngoài nước, và tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986.

Nhánh nghiên cứu Các tác giả, công trình tiêu biểu được trích xuất Nội dung, luận điểm chính được văn bản ghi nhận
Mỹ học và lý luận phương Tây cổ điển đến cận - hiện đại - Platon, Aristote (Poetics)
- Erich Auerbach (Mimésis, 1946)
- Antoine Compagnon
- M. Abrams (Gương và Đèn)
- Karl Marx, Friedrich Engels
- V.I. Lenin (Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán)
- Mimesis khởi nguyên từ Aristote với nghĩa mô phỏng hành động, mô phỏng cái khả nhiên chứ không đơn thuần là sao chép.
- Lenin khẳng định phản ánh là thuộc tính của vật chất; tuy nhiên áp dụng vào nghệ thuật còn bộc lộ hạn chế do chưa chú trọng đúng mức tính năng động của chủ thể và hoạt động ký hiệu.
- M. Abrams chia 4 khuynh hướng nghiên cứu: thuyết bắt chước, thuyết giáo huấn, thuyết biểu hiện, thuyết khách quan.
Mỹ học Marxist hiện đại và triết học ngôn ngữ thế kỷ XX - Gyorgy Lukács (Nghệ thuật và chân lý khách quan 1943, Đặc trưng của cái thẩm mĩ 1965)
- Christopher Caudwell (Ảo ảnh và hiện thực)
- Pierre Macherey, Lucien Goldmann (Chúa trời ẩn náu)
- Roger Garaudy, Ernst Fischer
- F. de Saussure, M. Bakhtin, J. Kristeva, R. Barthes, S. Rubinstein
- Lukács phát triển phạm trù "cái toàn cục", xem phản ánh nghệ thuật hướng tới hiện thực khách quan.
- Caudwell phân biệt "hiện thực bên trong" (nghệ thuật) và "hiện thực bên ngoài" (khoa học), coi nghệ thuật tạo ra ảo ảnh của hiện thực.
- Macherey xem nhà văn là người "sản xuất ra hiện thực"; Goldmann đề xuất khái niệm "cái nhìn thế giới".
- Fischer mở rộng "chiều kích thứ tư" của hiện thực; Saussure và các nhà hậu cấu trúc luận định hình bước chuyển ngôn ngữ: tác phẩm là hệ thống ký hiệu, văn bản quy chiếu liên văn bản.
Lý luận và phê bình phản ánh nghệ thuật ở Việt Nam - Phan Kế Bính (Việt Hán văn khảo)
- Tranh luận 1935–1939: Thiếu Sơn, Hoài Thanh vs Hải Triều, Bùi Công Trừng
- Nhóm Hà Minh Đức, Hoàng Xuân Nhị (1976)
- Nguyễn Minh Châu (1978), Hoàng Ngọc Hiến (1979)
- Tranh luận Đổi mới: Lê Ngọc Trà (1988, 2016), Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Điệp, Cao Thị Hồng, Trần Thiện Khanh
- Tranh luận 1935–1939 đặt nền móng đối thoại giữa tính thẩm mỹ tự trị và chức năng xã hội của văn học.
- Giai đoạn 1978–1979: Nguyễn Minh Châu và Hoàng Ngọc Hiến chỉ ra sự chi phối của khuynh hướng miêu tả "cái phải tồn tại" lấn át "cái đang tồn tại".
- Giai đoạn 1988–1989: Lê Ngọc Trà nêu luận điểm "Phản ánh là thuộc tính chứ không phải nhiệm vụ của văn học", văn học là sự "nghiền ngẫm về hiện thực".
- Trần Đình Sử phân tích 4 hạn chế lịch sử trong phản ánh luận của Lenin, khẳng định vai trò kiến tạo ký hiệu của ý thức con người.
Nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 - Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào, La Khắc Hòa, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Văn Dân, Đỗ Lai Thúy, Trương Đăng Dung, Lộc Phương Thủy, Đào Tuấn Ảnh, Lê Huy Bắc
- Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Ngọc Thiện, Ngô Văn Giá, Lý Hoài Thu, Phạm Xuân Thạch
- Giới thiệu các hệ thống lý thuyết văn học phương Tây hiện đại vào Việt Nam.
- Đánh giá các chuyển biến trong tư duy tự sự, sự thay đổi cấu trúc cốt truyện, nhân vật và sự xuất hiện của cảm quan hiện thực mới trong tiểu thuyết đương đại.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Kế thừa các thành tựu lý thuyết phản ánh của mỹ học marxist và các lý thuyết văn học hiện đại, luận án định vị mình ở điểm giao thoa giữa lý luận văn học và thực tiễn phân tích tác phẩm: xem xét phản ánh nghệ thuật không phải như một công thức sao chép tĩnh tại, mà như một quá trình kiến tạo thẩm mỹ chủ động. Luận án giải quyết khoảng trống trong việc tổng kết một cách hệ thống mô hình vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986 qua các cấp độ: nhận thức về thực tại, khám phá bản thể con người và hệ thống các lớp biểu tượng nghệ thuật.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các hệ thống khái niệm và lý thuyết sau:

  1. Lý thuyết phản ánh nghệ thuật và mô phỏng (Mimesis): Luận án phân tích khái niệm mimesis từ quan điểm của Aristote (mô phỏng hành động, mô phỏng cái khả nhiên), đối chiếu với quan niệm phản ánh luận duy vật của Karl Marx, Friedrich Engels, V.I. Lenin, và các kiến giải bổ sung của G. Lukács, Ch. Caudwell, Ernst Fischer, Pierre Macherey, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà. Khung lý thuyết này phân định rõ phản ánh nghệ thuật với phản ánh khoa học và sao chép tự nhiên.
  2. Lý thuyết thể loại tiểu thuyết của M. Bakhtin: Vận dụng hệ thống quan điểm của Bakhtin về tiểu thuyết như một thể loại đang vận động, chưa hoàn kết; đặc trưng đa thanh, đa ngữ; sự triệt tiêu khoảng cách sử thi để đưa hình tượng nghệ thuật vào khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện tại chưa xong xuôi; chức năng của tiếng cười trong việc giải phóng nhận thức. Kết hợp quan niệm của Milan Kundera về khả năng điều hợp của tiểu thuyết đối với thơ và triết học.
  3. Ký hiệu học và lý thuyết biểu tượng: Sử dụng nguyên lý ký hiệu học ngôn ngữ của F. de Saussure (mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt), các quan điểm hậu cấu trúc luận về tính liên văn bản (J. Kristeva, R. Barthes) và lý thuyết biểu tượng nghệ thuật để khảo sát cơ chế kiến tạo nghĩa của văn bản tiểu thuyết.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính trong ngành Lý luận văn học, phối hợp các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp loại hình: Sử dụng để nhận diện, phân loại và mô hình hóa các khuynh hướng nhận thức thực tại, các kiểu nhân vật và các mô hình tiểu thuyết tiêu biểu sau năm 1986.
  • Phương pháp hệ thống: Khảo sát mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành tác phẩm (nhan đề, nhân vật, không - thời gian, biểu tượng ngôn từ) trong tính chỉnh thể của văn bản nghệ thuật và trong toàn bộ tiến trình tiểu thuyết Đổi mới.
  • Phương pháp văn hóa – lịch sử: Đặt lý thuyết phản ánh và các hiện tượng tiểu thuyết vào bối cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội của Việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI để giải thích nguyên nhân chuyển biến của tư duy nghệ thuật.
  • Phương pháp so sánh: So sánh quan niệm giữa các nhà mỹ học marxist; đối chiếu tư duy tiểu thuyết trước năm 1986 (giai đoạn 1945–1975) với tư duy tiểu thuyết sau năm 1986; so sánh các phong cách sáng tác của các tác giả cùng thời kỳ.
  • Các thao tác bổ trợ: Khái quát hóa, hệ thống hóa, phân tích văn bản nghệ thuật.

Nguồn tư liệu và ngữ cảnh khảo sát

Nguồn tư liệu bao gồm các chuyên luận lý thuyết mỹ học, triết học và lý luận văn học kinh điển cùng hệ thống văn bản tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam tiêu biểu thời kỳ Đổi mới được xuất bản từ năm 1986 đến 2020.


Nội dung chính theo từng chương

Cấu trúc nội dung của luận án gồm 4 chương chính như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết và hệ thống hóa toàn bộ lịch sử vấn đề nghiên cứu ở hai mảng lớn:

  • Lý luận về đặc trưng phản ánh nghệ thuật: Trình bày diễn tiến quan niệm từ thời cổ đại phương Tây (mimesis của Platon và Aristote) đến sự hình thành phản ánh luận marxist qua Marx, Engels, Lenin. Phân tích các bước chuyển trong mỹ học marxist thế kỷ XX với G. Lukács (chủ nghĩa hiện thực và phạm trù cái toàn cục), Ch. Caudwell (sự hợp nhất hiện thực bên trong và bên ngoài), P. Macherey, L. Goldmann, R. Garaudy, E. Fischer (chiều kích thứ tư của hiện thực). Đồng thời, trình bày tác động của cuộc cách mạng ngôn ngữ học (Saussure), chủ nghĩa cấu trúc, hậu cấu trúc và cảm quan hậu hiện đại (cắt rời trần thuật, hiện thực thậm phồn) đối với lý thuyết phản ánh.
  • Vấn đề phản ánh nghệ thuật và nghiên cứu tiểu thuyết tại Việt Nam: Khảo sát các mốc tranh luận mỹ học từ Phan Kế Bính, cuộc tranh luận "Nghệ thuật vị nghệ thuật" và "Nghệ thuật vị nhân sinh" (1935–1939), các công trình lý luận giai đoạn 1976–1979 (Hà Minh Đức, Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến), cuộc thảo luận về văn học và hiện thực năm 1988–1989 do Lê Ngọc Trà khởi xướng, cùng các bài viết gần đây của Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Ngọc Trà, Cao Thị Hồng, Trần Thiện Khanh. Điểm qua các công trình nghiên cứu tiểu thuyết sau năm 1986 của giới nghiên cứu phê bình trong nước.

Chương 2: Phản ánh nghệ thuật và sự vận động của tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 2 thiết lập cơ sở lý luận về thể loại và làm rõ sự chuyển dịch hệ hình tư duy tiểu thuyết:

  • Khả năng của tiểu thuyết trong phản ánh nghệ thuật:
    • Phân tích ranh giới và mối liên hệ giữa hai khái niệm "phản ánh" và "mô phỏng". Khẳng định mimesis không phải là sao chép cơ học thế giới bên ngoài mà là phương thức kiến tạo thế giới nghệ thuật dựa trên cái khả nhiên. Tiếp thu quan điểm của S. Rubinstein và Trần Đình Sử về cơ chế phản ánh là sự phản xạ bản thể luận và hoạt động kiến tạo ký hiệu của não bộ, bác bỏ quan niệm giản đơn xem ý thức như "máy ảnh" chụp lại hiện thực.
    • Phân tích tính ưu trội của thể loại tiểu thuyết dựa trên lý thuyết của M. Bakhtin: tính chất thể loại chưa hoàn định, tính ba chiều gắn với ý thức đa ngữ, sự thay đổi tọa độ thời gian (đưa hình tượng tiếp xúc tối đa với hiện tại chưa hoàn thành) và vai trò của tiếng cười trong việc kéo gần và phân tích đối tượng một cách tự do. Vận dụng nhận định của Milan Kundera về năng lực điều hợp thơ ca và triết học của tiểu thuyết.
  • Những thay đổi trong tư duy tiểu thuyết Việt Nam sau 1986:
    • Tư duy tiểu thuyết trước 1986: Gắn liền với mô hình đại tự sự, phản ánh hiện thực cách mạng dưới góc độ cộng đồng và tính giai cấp, nhấn mạnh "cái phải tồn tại" mang tính lý tưởng hóa, sử dụng khoảng cách sử thi để ca ngợi quá khứ anh hùng.
    • Sự thay đổi sau 1986: Chuyển từ mô hình đại tự sự sang tiểu tự sự; từ bỏ tham vọng phản ánh bao quát toàn cảnh theo kiểu biên niên sử để chuyển sang khai thác số phận cá nhân, đời tư thế sự; cấu trúc truyện phi tuyến tính, đa điểm nhìn, tiếp cận hiện thực ở thì hiện tại chưa xong xuôi.

Chương 3: Ý thức về thực tại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 3 đi sâu khảo sát các bình diện nội dung nhận thức mới về đời sống và con người trong văn bản tiểu thuyết:

  • Những khám phá về thực tại đời sống:
    • Thực tại phi lý, bất định: Tiểu thuyết không còn nhìn cuộc sống như một chuỗi nguyên nhân - kết quả tất định, hợp lý mà nhìn nhận những biến cố ngẫu nhiên, sự đảo lộn của các giá trị, những phương diện phi lý và bất an của đời sống hiện đại.
    • Thực tại như trò chơi: Tác giả sử dụng các kỹ thuật giễu nhại, lắp ghép, xóa nhòa ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu, xem sáng tạo nghệ thuật và việc trần thuật như một trò chơi cấu trúc và diễn ngôn.
    • Thực tại như là quá trình: Hiện thực không phải là cái đã định hình, hoàn tất mà luôn ở trạng thái đang vận động, biến đổi, đòi hỏi sự đối thoại và đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận.
  • Những khám phá về bản thể tồn tại:
    • Con người cô đơn, bất an: Miêu tả thân phận cá nhân lạc lõng, hoang mang trong môi trường sống biến động, mất mát chỗ dựa tinh thần.
    • Con người bản năng, vô thức: Khám phá các tầng sâu tâm lý vô thức, những ham muốn tự nhiên, khát vọng nhục cảm của con người vốn bị khuất lấp trong các giai đoạn văn học trước.
    • Con người tâm linh: Thể hiện chiều kích đời sống tâm linh, tín ngưỡng, cảm thức tôn giáo và mối liên hệ bí ẩn giữa con người với cội nguồn văn hóa, lịch sử và thế giới siêu thực.

Chương 4: Ý thức kiến tạo biểu tượng trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Chương 4 tập trung phân tích phương thức biểu đạt nghệ thuật thông qua hệ thống ký hiệu và biểu tượng:

  • Khái quát về tính ký hiệu và biểu tượng trong văn học: Trình bày nguyên lý cấu tạo ký hiệu ngôn ngữ theo F. de Saussure và sự chuyển hóa từ ký hiệu sang biểu tượng thẩm mỹ nhiều tầng nghĩa trong sáng tác văn học.
  • Các lớp biểu tượng cụ thể trong tiểu thuyết sau 1986:
    • Nhan đề mang tính biểu tượng: Khảo sát các nhan đề tiểu thuyết không chỉ mang chức năng định danh mà còn chứa đựng tính khái quát triết mỹ, báo hiệu mô hình hiện thực của tác phẩm.
    • Nhân vật mang tính biểu tượng: Nhân vật không thuần túy là đại diện giai cấp hay tính cách điển hình truyền thống, mà trở thành biểu tượng cho những trạng thái nhân sinh, bi kịch tồn tại hoặc các giá trị văn hóa.
    • Không – thời gian mang tính biểu tượng: Sự đan xen giữa không gian thực và ảo, không gian tâm tưởng; thời gian đồng hiện, phi tuyến tính, mang ý nghĩa tượng trưng cho sự dồn nén của ký ức và tâm lý.
    • Từ ngữ, hình ảnh biểu tượng: Việc lặp lại các hình ảnh, từ ngữ mang tính ám gợi (màu sắc, đồ vật, âm thanh, hành động) tạo nên mạng lưới ngữ nghĩa biểu tượng xuyên suốt cấu trúc văn bản.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm rõ và hệ thống hóa lý thuyết phản ánh nghệ thuật từ góc nhìn hiện đại, chỉ ra rằng phản ánh trong nghệ thuật không đồng nhất với việc sao chép hiện thực khách quan mà là hành vi kiến tạo mang tính chủ thể, sử dụng hệ thống ký hiệu thẩm mỹ để tái hiện "cái khả nhiên" và "hiện thực bên trong".
  2. Luận án cung cấp cái nhìn mang tính chất vận động (tính "động") về nội hàm của các khái niệm lý luận quen thuộc: khái niệm hiện thực, khái niệm phản ánh, và khái niệm mô phỏng (mimesis).
  3. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quy luật phản ánh nghệ thuật với ý thức tự do sáng tạo của nhà văn, khẳng định vai trò quyết định của tư duy thể loại đối với phương thức biểu hiện hiện thực.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Phác thảo diện mạo và đặc điểm loại hình của tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986, chứng minh rằng sự cách tân về cấu trúc tự sự, hình tượng nhân vật và hệ thống biểu tượng là kết quả tất yếu của sự chuyển biến trong ý thức về thực tại của người cầm bút.
  2. Cung cấp hệ thống tư liệu phân tích văn bản cụ thể, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu chuyên sâu về văn học Việt Nam đương đại và công tác giảng dạy học phần Ngữ văn, Lý luận văn học, Thời sự văn học tại các trường Đại học, Cao đẳng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu trong phần Mở đầu, số lượng tiểu thuyết xuất bản từ sau năm 1986 đến nay rất lớn và đa dạng về khuynh hướng. Do đó, luận án chỉ tập trung khảo sát những tác phẩm tiêu biểu có khuynh hướng cách tân, thể nghiệm và gây được tiếng vang trong dư luận; chưa thể bao quát toàn bộ mọi tác phẩm thuộc các mảng đề tài khác nhau của tiểu thuyết đương đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tiểu thuyết đại chúng, tiểu thuyết lịch sử hoặc tiểu thuyết trinh thám xuất bản trong những năm gần đây để kiểm chứng mức độ phổ quát của các quy luật phản ánh nghệ thuật.
    • Tiếp tục vận dụng các lý thuyết thi pháp học và ký hiệu học đương đại để nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tiếp nhận của bạn đọc đối với hệ thống biểu tượng trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hội nhập.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng sau:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học, Lý luận văn học: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống về phản ánh luận marxist hiện đại, thi pháp thể loại của M. Bakhtin và lý thuyết ký hiệu học văn học; là tài liệu phục vụ biên soạn bài giảng chuyên đề về tiểu thuyết và thời sự văn học Việt Nam.
  • Giáo viên Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông: Tham khảo các kiến giải lý luận và kỹ năng phân tích tác phẩm tự sự hiện đại để phục vụ dạy học văn học sau 1986 theo định hướng đổi mới chương trình và phương pháp.
  • Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học: Cung cấp nguồn ngữ liệu và góc nhìn phân loại về các mô hình thực tại (phi lý, trò chơi, quá trình) và các lớp biểu tượng trong văn xuôi đương đại Việt Nam.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (phần luận giải về mimesis, tính ưu trội của tiểu thuyết theo Bakhtin) và Chương 3 (sự phân loại các bình diện khám phá thực tại đời sống và bản thể con người).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "phản ánh" và "mô phỏng" (mimesis) như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng mimesis từ thời Aristote không phải là sao chép bề ngoài thực tại mà là phương thức kiến tạo tác phẩm dựa trên mô phỏng hành động và biểu hiện cái khả nhiên (cái có thể xảy ra). Phản ánh nghệ thuật là sự phản xạ bản thể luận và hoạt động kiến tạo ký hiệu của ý thức chủ thể, phân biệt với phản ánh khoa học hay sao chép cơ học.

2. Quan điểm của M. Bakhtin về tính ưu trội của thể loại tiểu thuyết được luận án vận dụng ra sao?
Luận án vận dụng 3 luận điểm then chốt của Bakhtin: (1) tiểu thuyết là thể loại đang vận động, chưa định hình cố định; (2) tính đa ngữ, đa thanh gắn với ý thức nghệ thuật mới; (3) đưa hình tượng nghệ thuật tiếp xúc trực tiếp với hiện tại ở thì chưa hoàn thành. Cùng với đó, tiếng cười trong tiểu thuyết có chức năng giải phóng nhận thức, xóa bỏ khoảng cách sử thi để khảo sát đối tượng tự do.

3. Vì sao luận án khẳng định phản ánh luận của Lenin có những hạn chế mang tính lịch sử khi áp dụng vào mỹ học?
Dựa trên phân tích lý luận của Trần Đình Sử, luận án nêu 4 hạn chế: xem phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi vật chất; xem cảm giác chỉ là phản ánh đúng đắn sự vật mà chưa thấy cảm giác có thể đánh lừa; xem nhẹ tính năng động của chủ thể; và phủ nhận tính tín hiệu/ký hiệu của cảm giác. Từ đó, lý thuyết của Lenin dễ dẫn đến cách hiểu phản ánh nghệ thuật đơn thuần là sao chép kết quả nếu không được bổ sung lý thuyết ký hiệu và tâm lý học sáng tạo.

4. Khám phá về bản thể tồn tại của con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 gồm những chiều kích nào?
Theo Chương 3 của luận án, bản thể con người được khám phá ở 3 chiều kích chính: (1) con người cô đơn, bất an trước những biến động của đời sống; (2) con người bản năng, vô thức với những nhu cầu tự nhiên và vô thức tâm lý; (3) con người tâm linh với các giá trị tín ngưỡng và đời sống tâm tưởng sâu kín.

5. Các lớp biểu tượng nghệ thuật được luận án khảo sát ở Chương 4 gồm những yếu tố nào?
Chương 4 khảo sát 4 lớp biểu tượng cụ thể: (1) nhan đề mang tính biểu tượng; (2) nhân vật mang tính biểu tượng; (3) không – thời gian mang tính biểu tượng; (4) từ ngữ và hình ảnh biểu tượng trong cấu trúc trần thuật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đặng Ngọc Khương là công trình nghiên cứu hệ thống về tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020 dưới lăng kính đặc trưng phản ánh nghệ thuật. Bằng việc kết hợp mỹ học marxist hiện đại với thi pháp học Bakhtin và lý thuyết ký hiệu học, luận án đã làm rõ sự vận động của tư duy thể loại từ mô hình đại tự sự sang tiểu tự sự. Công trình phân tích sâu sắc các chiều kích nhận thức mới về thực tại phi lý, bản thể con người cá nhân và hệ thống kiến tạo biểu tượng trong tiểu thuyết Đổi mới. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn ngữ liệu và luận điểm khoa học giá trị cho công tác nghiên cứu lý luận văn học và giảng dạy văn học Việt Nam đương đại.