Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ TIỂU THUYẾT CỦA NHẤT LINH ( 1932 – 1945 ) 1. Khái lược về tiếp cận văn hóa học 1. Một số khái niệm về văn hóa Theo các nhà ngôn ngữ học, văn hóa (culture), với tư cách là một danh từ độc lập, chỉ bắt đầu được sử dụng từ thế kỉ XVIII. Trước đó, như nhiều tác giả đã viết, trong các câu hay các cụm từ, nó được chuyển từ nghĩa đen “gieo trồng trên đất đai” sang nghĩa bóng “vun trồng cho trí óc” (ở phương Tây) hay “giáo hóa bằng văn” (ở phương Đông).
Ví như từ giữa thế kỉ XIII, F. Bacon đã nói về “ văn hóa và chăm bón trí tuệ”, hay xa hơn nữa, ở thế kỉ I trước công nguyên, Lưu Hướng (đời Hán) quan niệm văn hóa là văn trị và giáo hóa. Người đầu tiên có công đưa từ “culture” vào trong khoa học là S. PuFendorf- nhà nghiên cứu pháp luật người Đức.
PuFendorf sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do con người tạo ra, và các sản phẩm nhân tạo này là khác với các sự vật trong thế giới tự nhiên tựa như con người được giáo dục khác với con người không được giáo dục [25]. Văn hóa là một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị về vật chất cũng như tinh thần trong đời sống xã hội của loài người. Theo như Chủ Tịch Hồ Chí Minh “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng… Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [40, tr. Khái niệm về văn hóa có từ lâu đời và nội hàm của nó rất rộng.
Kluckhohn trong cuốn Văn hóa: Cái nhìn phân tích về 9 Khái niệm và Định nghĩa có khoảng hơn 200 định nghĩa về văn hóa. Rõ ràng chúng ta thấy số lượng về khái niệm văn hóa hết sức phong phú. Trong quá trình nghiên cứu, có rất nhiều khái niệm về văn hóa mà chúng ta có thể khai thác và hiểu một cách thấu đáo. Tuy nhiên, với mỗi một khái niệm đều thể hiện tính mục đích sử dụng và vận dụng khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu chúng ta có thể sử đụng một khái niệm phù hợp nhất. Dưới đây là một số khái niệm về văn hóa: Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) [56] có đưa ra định nghĩa: 1, Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh thần. Tri thức, kiến thức khoa học.
Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh: (Sống có văn hóa, Ăn nói thiếu văn hóa) 5. Nền văn hóa của một thời kỳ xa xưa, đã được xác định trên tổng thể những di vật tìm thấy và chúng có điểm giống nhau. Văn hóa Đông Sơn) Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1997 “ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [69] 10 Một định nghĩa khác bao quát hơn, rộng lớn hơn “ Văn hóa là tất cả những gì phi tự nhiên”. Đó là định nghĩa mà Đỗ Lai Thúy đã thể hiện trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa [70, tr16,17].
Theo tác giả Phan Ngọc thì cho rằng: “Văn hóa là quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ của một xã hội hay khúc xạ [41, tr22] Trước sự đa dạng khái niệm về văn hóa, Tổ chức khoa học giáo dục Liên hợp quốc đã đi đến thống nhất khái niệm về văn hóa: “ Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm cả nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt những giá trị văn hóa mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân” [70, tr18].
Cùng với sự phát triển của đất nước, yếu tố văn hóa không thể không được quan tâm. Bởi chính văn hóa là “hồn cốt” để tạo nên một dân tộc Việt Nam đậm đà bản sắc đân tộc. Quan tâm tới sự phát triển đất nước, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống 11 nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; Văn hóa là một mặt trận; Xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng. Nói tóm lại, văn hóa là sản phẩm độc đáo của quá trình lịch sử, văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tương tác giữa con người với tự nhiên, xã hội và bản thân.
Văn hóa là của con người, do con người sáng tạo và vì lợi ích của con người. Văn hóa được con người giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con người và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với phạm vi của đề tài, chúng tôi lựa chọn cách hiểu văn hóa gắn liền với bản sắc văn hóa của nhà nghiên cứu Phan Ngọc và Tổ chức Khoa học giáo dục Liên hợp quốc. Bản sắc văn hóa Khi nói tới văn hóa, chúng ta đều biết văn hóa là sản phẩm, diện mạo của cá nhân và cộng đồng.
Khoa học đã chứng minh rằng con người chưa xuất hiện thì trái đất chỉ có thế giới tự nhiên. Khi ấy tự nhiên tồn tại “tự nhiên”. Con người xuất hiện, thế giới tự nhiên trở nên phong phú. Trong thế giới tự nhiên con người đã sáng tạo và chinh phục tự nhiên ở bên ngoài lẫn cái tự nhiên ở chính mình để tạo ra văn hóa.
Con người luôn tìm cách làm chủ thế giới, tác động vào tự nhiên để thiên nhiên phải phục vụ lại con người. Bên cạnh việc cải tạo tự nhiên, biến đổi tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình, con người sáng tạo ra những cái mới, vốn không có trong tự nhiên. Như Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người phải sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh 12 hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa” [40, tr.
Từ thế giới tự nhiên cho đến đời sống xã hội đã được con người làm cho có ý nghĩa nhờ thấm nhuần tinh thần của văn hóa. Tinh thần văn hóa đó không phải ngẫu nhiên mà có. Các nhà triết học cho rằng “ Khả năng đối xử có tính người đối với thế giới và đối với những người khác, khả năng lao động, giao tiếp với những người xung quanh, khả năng tư duy, có những tình cảm đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ - tất cả những cái đó đều không phải là những đặc tính của cơ thể, mà là những nét đã được hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hội tiêu biểu cho thực chất của con người trong cách biểu hiện và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hóa xã hội” [64].
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với những giá trị văn hóa. Giá trị văn hóa được thể hiện ở bản sắc văn hóa. Với nhà nghiên cứu Dương Phú Hiệp thì “ Bản sắc riêng của mỗi nền/ dạng/ kiểu văn hóa thường được biểu hiện là những nét đặc thù và độc đáo thể hiện trong hiện tượng văn hóa hoặc các sản phẩm của văn hóa, quy định bộ mặt của mỗi nền văn hóa” [33, tr. Còn Ngô Đức Thịnh thì bản sắc văn hóa “ là một tổng thể các đặc trưng của văn hóa được hình thành và tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử của dân tộc, các đặc trưng văn hóa ấy mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa, với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy.
Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể, bộc lộ và khả biến hơn” [67]. Trong quá trình giao lưu, tiếp 13 biến những giá trị văn hóa mới luôn được hình thành cho phù hợp với mỗi vùng, miền, quốc gia. Vậy có thể nói, văn hóa là cái đánh dấu sự vượt lên những gì tự nhiên và bản năng của con người. Đó là sản phẩm riêng của xã hội loài người.