Đặt vấn đề Hình thành đề tài Xác định mục tiêu, phạm vi nghiên cứu Xác định ý nghĩa của đề tài Xác định cơ sở khoa học của khóa luận - Lý thuyết nhà cung cấp - Đánh giá hệ thống lựa chọn nhà cung cấp - Công cụ, phương pháp áp dụng - Phương pháp nghiên cứu Đánh giá bộ tiêu chuẩn, hệ thống hiện tại Hậu quả của việc dùng bộ tiêu chuẩn hiện tại Phân tích nguyên nhân Xác định lại nguyên nhân Đề xuất bộ tiêu chuẩn mới Dùng bộ tiêu chuẩn mới để đánh giá nhà cung cấp Kết luận: điểm tích cực và hạn chế trong quá trình thực hiện khóa luận Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 6 Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA KHÓA LUẬN Chương này sẽ giới thiệu một số cơ sở lý thuyết về chuỗi cung ứng cũng như quản lý chuỗi cung ứng và tìm nhà cung cấp. Nền tảng lý thuyết của khóa luận hoàn toàn dựa trên cơ sở lý thuyết của chương này. Bên cạnh đó, cũng liên hệ thực tế với công ty TNHH Hanwa Việt Nam. Chương này cũng đề cập đến vai trò và nhiệm vụ của Hanwa trong chuỗi cung ứng mà Hanwa đang tham gia vào, để từ đó góp phần nhấn mạnh nguyen nhân, lý do cần thiết để hình thành nên bộ tiêu chí mới nhằm tìm ra nhà cung cấp có đầy đủ năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng và cải thiện uy tính doanh nghiệp.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 2.1 Một số khái niệm về chuỗi cung ứng - Một chuỗi cung ứng đặc trưng là một chuỗi các hoạt động bao gồm: thu mua nguyên vật liệu, sản xuất sản phẩm, chuyển vào hệ thống kho và cuối cùng là chuyển đến các đại lý và khách hàng [1].
- Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các sự lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu; biến đổi nguyên vật liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, cuối cùng phân phối sản phẩm đến khách hàng [2]. Thu mua Sản xuất Phân phối Nhà cung Nguyên liệu Nhà Nhà kho/Tồn Nhà bán cấp đầu vào máy trữ lẻ/Khách hàng Hình 2.1- Chuỗi cung ứng đặc trưng.2 Quản lý chuỗi cung ứng Là sự kết hợp sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên tham gia trong chuỗi cung ứng nhằm đạt được khối lượng công việc hiệu quả nhất trong thị trường đang phục vụ. Xét trên tính hệ thống, đó là sự kết hợp chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt theo các chức năng đó trong những công ty riêng biệt, kết hợp những chức năng kinh doanh truyền thống với chức năng kinh doanh trong chuỗi cung ứng nhằm mục đích cải tiến hoạt động trong dài hạn cho nhiều công ty cũng như cho toàn bộ chuỗi cung ứng. Mục tiêu quản lý chuỗi cung ứng là tăng thông lượng đầu vào và giảm đồng thời hàng tồn kho và chi phí vận hành [3].3 Cấu trúc và thành phần của chuỗi cung ứng Nhà Công Khách hàng cung cấp ty Hình 2.2- Cấu trúc chuỗi cung ứng đơn giản.
Nhà cung cấp Nhà Công Khách Khách hàng cuối cùng cung cấp ty hàng cuối cùng Nhà cung cấp dịch vụ Hình 2.3 - Cấu trúc chuỗi cung ứng mở rộng. - Nhà cung cấp: cung cấp nguyên vật liệu (NVL) từ quá trình sản xuất (SX), cung cấp chi tiết trong quá trình SX 8 - Nhà sản xuất: là các tổ chức SX ra sản phẩm, bao gồm những công ty sản xuất NVL và SX thành phẩm - Nhà phân phối: là những công ty tồn trữ hàng với số lượng lớn từ nhà sản xuất và phân phối sản phẩm đến khách hàng - Nhà bán lẻ: tồn trữ sản phẩm và bán cho khách hàng với số lượng nhỏ hơn - Khách hàng: là bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm - Nhà cung cấp dịch vụ: là những tổ chức cung cấp dịch vụ như: hậu cần, tài chính, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm, công nghệ thông tin cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng.4 Hoạt động của chuỗi cung ứng 1. Tồn kho SX cái gì, như thế SX bao nhiêu và dự nào và khi nào? trữ bao nhiêu? 5. Thông tin Những vấn đề cơ bản để ra quyết định.
Địa điểm Vận chuyển sản phẩm Nơi nào thực hiện tốt nhất bằng cách nào và khi nào? Tính đáp ứng và tính hiệu quả cho hoạt động gì? Hình 2.4 – Năm tác nhân thúc đẩy chính của chuỗi cung ứng.5 Tìm nguồn cung ứng Chức năng thu mua có thể được chia thành năm hoạt động chính như sau: mua hàng, quản lý mức tiêu dùng, lựa chọn nhà cung cấp, thương lượng hợp đồng và quản lý hợp đồng [3]. Trong đó, việc lựa chọn nhà cung cấp là hoạt động quan trọng nhất của chức năng thu mua để đảm bảo mua đúng sản phẩm/dịch vụ có chất lượng cao vào đúng thời điểm với mức giá hợp lý. Qua nhiều năm quan sát ở hầu 9 hết các ngành SX công nghiệp, chi phí nguyên liệu chiếm khoảng 60 – 80% tổng chi phí [7]. Hoạch định Dự báo nhu cầu Định giá sản phẩm Quản lý tồn kho Phân phối Tìm nguồn cung ứng Quản lý đơn hàng Cung ứng Lịch giao hàng Tín dụng và khoản phải thu Sản xuất Thiết kế sản phẩm Lịch trình sản xuất Quản lý dây truyền Hình 2.5 - Bốn yếu tố chính của hoạt động chuỗi cung ứng.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ - LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP Lựa chọn nhà cung cấp là một hoạt động diễn ra liên tục để xác định khả năng cung ứng cần thiết để thực hiện kế hoạch và vận hành mô hình kinh doanh của công ty.
Lựa chọn nhà cung cấp phải xem xét đến một số yếu tố như: phù hợp chiến lược công ty, năng lực nhà cung cấp, chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng đúng hẹn,… Để có được những đề xuất với nhà cung cấp về khả năng cung cấp các sản phẩm/dịch vụ cần thiết, công ty phải hiểu rõ tình hình mua hàng hiện tại và đánh giá được những gì công ty cần hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Một nguyên tắc chung là công ty phải thu hẹp dần số lượng nhà cung cấp để lựa chọn đối tác kinh doanh phù hợp. Đây chính là đòn bẩy quyết định quyền lực của người mua đối với nhà cung cấp để có được một mức giá tốt nhất khi mua sản phẩm số lượng lớn. Quá trình lựa chọn nhà cung cấp gồm 3 bước: đánh giá nhà cung cấp, phát triển nhà cung cấp và thương lượng hợp đồng [3].1 Đánh giá nhà cung cấp Bao gồm việc tìm kiếm các nhà cung cấp tìm năng và xác định khả năng họ trở thành nhà cung cấp tốt.
Một số cách đánh giá nhà cung cấp thường gặp: 10 2.1 Đánh giá dựa trên qui trình (Process-based evaluation) Một nhóm gồm các chuyên gia chức năng chéo (cross-funtional experts) gồm 5 đến 7 người đến cơ sở của nhà cung cấp tiềm năng để thanh tra. Các tiêu chí đánh giá được thảo luận bởi các thành viên trong nhóm thanh tra. Những lưu đồ quá trình có thể được phát triển để xác định các hoạt động không mang lại giá trị nên loại bỏ đi để cải thiện hiệu năng kinh doanh. Các tổ chức mua hàng lớn còn yêu cầu nhà cung cấp của họ phải đạt được chứng chỉ của bên thứ ba cấp như ISO 9000,…[4].
Đối với công ty Hanwa Việt Nam, quá trình thành lập đoàn chức năng chuyên giá để đánh giá nhà cung cấp được thực hiện thường xuyên, ngay từ khoảng thời gian đầu, công ty mẹ, Hanwa Tokyo cử đại diện sang Việt Nam, thực hiện các cuộc gặp gỡ, chào hỏi nhà cung cấp kết hợp đánh giá cơ bản về năng lực nhà cung cấp. Trong bước này, các chuyên gia đánh giá được dựa vào các quan sát trang thiết bị, máy móc ở nhà máy, số lượng công nhân, số lượng đơn hàng đang tiến hành làm và sẽ làm, các qui trình sản xuất, thủ tục, quá trình lưu trữ bán thành phẩm, thành phẩm sản phẩm, đóng gói và chờ xuất,… thông qua các quan sát thực tế này, kết hợp với các chứng chỉ mà nhà máy nhận được như ISO, OHSAS,… Các chuyên gia có thể cơ bản đưa ra các nhận xét về nhà cung cấp này có tiềm năng hay không.2 Đánh giá dựa trên hiệu năng Đánh giá hiệu năng cung ứng thực sự của nhà cung cấp dựa trên các tiêu chí khác nhau như chất lượng, chi phí, giao hàng,… Cách đánh giá này thiên về chiến thuật nhiều hơn và đo hiệu năng hàng ngày của nhà cung cấp. Phương pháp này được sử dụng phổ biến hơn đánh giá dựa trên qui trình vì dữ liệu mục tiêu có sẵn và dễ đo lường hơn. Ưu điểm của nó là làm giảm đi sự thiên lệch do chủ quan của người đánh giá (perceptual bias) và cung cấp một phương tiện cho sự đối chuẩn (benchmarking) hiệu năng nhà cung cấp [4].
Phát triển nhà cung cấp Đánh giá nhà cung cấp là một loại của chương trình phát triển nhà cung cấp (SDP: Supplier Development Program) được thực hiện nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh doanh hiện tại và tương lai của doanh nghiệp bằng cách cải thiện hiệu năng và năng lực nhà cung cấp. Để duy trì mối quan hệ kinh doanh, nhà quản lý bên mua phải tìm cách truyền đạt vấn đề như thực hiện đánh giá nhà cung cấp hoặc gửi bản báo cáo và thông tin các kết quả đến nhà cung cấp với hi vọng và mong chờ về sự cải tiến hiệu năng và thúc đẩy nhà cung cấp thay đổi nó. Bên mua cần thiết kế một chiến lược truyền thông cụ thể trong những nổ lực phát triển nhà cung cấp. Kết quả của sự nổ lực truyền thông hợp tác trong là nâng cao nhận thức của nhà cung cấp về mối quan hệ bên mua – bên bán và nâng cao sự cam kết của nhà cung cấp đối với bên mua.
Cuối cùng, bên bán có được những lợi thế về cơ hội học hỏi, cải thiện hiệu năng một cách toàn diện với bên mua và với cả hững khách hàng khác nữa. Các chính sách mua hàng cũng cần được công bố. Tỷ lệ phần trăm giao dịch với từng nhà cung cấp cũng được xem xét [4].