ĐẶT VẤN ĐỀ. Đại cƣơng về bệnh thoái hóa khớp. Chẩn đoán và điều trị thoái hóa khớp gối. Phƣơng pháp điều trị thoái hóa khớp gối bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic.
Tình hình nghiên cứu về điều trị thoái hóa khớp gối. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tƣợng nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu. Xử lý số liệu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Đặc điểm chung đối tƣợng nghiên cứu.
Kết quả điều trị. Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu. Kết quả điều trị.
Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả điều trị. 67 v AN MỤ ẢN Bảng 2. Đánh giá chỉ số BMI cho ngƣời châu Á trƣởng thành. Đặc điểm về tuổi, giới, nghề nghiệp, BMI.
Vị trí khớp tổn thƣơng. Tiền sử điều trị thuốc trƣớc nghiên cứu. Kết quả siêu âm khớp gối. Kết quả xét nghiệm máu.
Phân loại tổn thƣơng khớp gối theo Kellgren - Lawrence. Đánh giá mức độ đau tại thời điểm T0 theo thang điểm VAS và thang điểm Lysholm 37 Bảng 3. Kết quả điều trị tiêm AH qua cải thiện độ gấp duỗi khớp gối. Kết quả điều trị qua cải thiện độ gấp duỗi khớp gối tại T5.
Kết quả điều trị qua cải thiện độ gấp duỗi khớp gối tại T12. Kết quả điều trị tiêm AH qua dấu hiệu cứng khớp và lục khục khi vận động 41 Bảng 3. Kết quả điều trị qua một số dấu hiệu lâm sàng. Liên quan giữa kết quả điều trị với các nhóm tuổi theo thang điểm VAS 42 Bảng 3.
Liên quan giữa kết quả điều trị của hai giới theo thang điểm VAS 43 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với thời gian mắc bệnh theo thang điểm VAS 43 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với chỉ số khối cơ thể BMI theo thang điểm VAS 44 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với giai đoạn tổn thƣơng trên XQ theo thang điểm VAS 44 vi Bảng 3.
Liên quan giữa kết quả điều trị với hình ảnh VMHD trên siêu âm khớp gối theo thang điểm VAS 45 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với dấu hiệu TDKG trên siêu âm theo thang điểm VAS 45 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị ở các nhóm tuổi theo thang điểm Lysholm 46 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị của hai giới theo thang điểm Lysholm 46 Bảng 3.
Liên quan giữa kết quả điều trị với thời gian bị bệnh.47 theo thang điểm Lysholm. Liên quan giữa kết quả điều trị với chỉ số khối cơ thể BMI theo thang điểm Lysholm47 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với các giai đoạn tổn thƣơng trên XQ theo thang điểm Lysholm 48 Bảng 3. Liên quan giữa kết quả điều trị với hình ảnh VMHD trên siêu âm theo thang điểm Lysholm 48 Bảng 3.
Liên quan giữa kết quả điều trị với dấu hiệu DKG trên siêu âm theo thang điểm Lysholm 49 Bảng 3. Mối liên quan giữa tuổi, BMI, thời gian bị bệnh, giai đoạn tổn thƣơng XQ và hình ảnh siêu âm với kết quả điều trị 50 vii AN MỤ ÌN VẼ, ỂU Ồ Hình 1. Giải phẫu khớp gối [2]. Các tƣ thế vận động khớp gối [8],[16].
Công thức hóa học của acid hyaluronic [66]. Vị trí tiêm khớp gối [6]. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh. Kết quả điều trị theo thang điểm VAS.
Kết quả điều trị theo thang điểm Lysholm. Đánh giá tác dụng không mong muốn của liệu pháp tiêm nội khớp acid hyaluronic. 42 1 ẶT VẤN Ề Thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa sự tổng hợp và hủy hoại của sụn và xƣơng dƣới sụn. Sự mất cân bằng này có thể đƣợc bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hóa, chấn thƣơng.
Tuy nhiên nguyên nhân chính của bệnh là do quá trình lão hóa và tình trạng chịu áp lực quá tải và kéo dài của sụn khớp. Tổn thƣơng cơ bản của bệnh biểu hiện bởi các thay đổi hình thái, sinh hóa, phân tử, cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hóa, nứt vỡ và mất sụn khớp, xơ hóa (đặc) xƣơng dƣới sụn, tạo gai xƣơng và hốc xƣơng dƣới sụn đau và giảm chức năng vận động của khớp. Các triệu chứng thƣờng xảy ra từng đợt, nếu không đƣợc điều trị về lâu dài sẽ gây đau đớn, ảnh hƣởng đến lao động và sinh hoạt. Ngày nay bệnh trở thành mối quan tâm đặc biệt ở các nƣớc có tuổi thọ trung bình cao và nền kinh tế phát triển [3],[6],[13],[18].
Tại Mỹ hàng năm có 21 triệu ngƣời mắc thoái hóa khớp với 4 triệu ngƣời phải nằm viện, khoảng 100.000 bệnh nhân không thể đi lại đƣợc do thoái hóa khớp gối nặng [31]. Tại Pháp thoái hóa khớp chiếm 28,6% các bệnh về xƣơng khớp và có khoảng 3,4 triệu ngƣời tới điều trị thoái hóa khớp mỗi năm [6],[38]. Tại Việt Nam, theo thống kê tại Bệnh viện Bạch Mai trong 10 năm (1991-2000) bệnh chiếm 10,41% các bệnh về khớp [6]. Thoái hoá khớp gối là một vị trí thƣờng gặp nhất của bệnh thoái hoá khớp và là nguyên nhân gây tàn tật cho ngƣời có tuổi đứng thứ hai sau nhóm bệnh tim mạch [1],[12],[17],[23].
Việc chẩn đoán sớm và điều trị thoái hóa khớp gối là vấn đề đang đƣợc nhiều tác giả quan tâm. Việc điều trị bổ sung acid hyaluronic trong thoái hóa khớp gối đƣợc Rydell và cộng sự công bố lần đầu tiên tại Pháp. Thời gian sau có nhiều nghiên cứu khác đánh giá hiệu quả của acid hyaluronic trong điều trị thoái hóa khớp gối, kết quả cho thấy thuốc có tác dụng giảm đau và cải thiện 2 chức năng vận động kéo dài cho ngƣời bệnh. Hiện nay liệu pháp này đã đƣợc nhiều nƣớc áp dụng rộng rãi trong điều trị thoái hóa khớp gối [39],[40],[42].
Ở Việt Nam thoái hoá khớp gối là bệnh thƣờng gặp, đã có những công trình nghiên cứu về tình trạng và phƣơng pháp điều trị thoái hoá khớp gối [9], [11],[13],[25]. Liệu pháp điều trị thoái hóa khớp gối bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic đã đƣợc thực hiện ở Thái Nguyên trong thời gian gần đây. Tuy nhiên kết quả của phƣơng pháp này với các bệnh nhân thoái hóa khớp gối chƣa đƣợc đánh giá và theo dõi thống nhất nên cần thiết phải có đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Kết quả điều trị thoái hoá khớp gối nguyên phát bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic” với 2 mục tiêu: 1.
Đánh giá kết quả điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic (GO-ON) 2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả điều trị thoái hóa khớp gối nguyên phát bằng tiêm nội khớp acid hyaluronic 3 hƣơng 1. ại cƣơng về bệnh thoái hóa khớp 1. Khái niệm thoái hóa khớp [3],[6],[13],[18].
Thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình cơ học và sinh học làm mất cân bằng giữa tổng hợp và hủy hoại của sụn và xƣơng dƣới sụn. Sự mất cân bằng này có thể đƣợc bắt đầu bởi nhiều yếu tố: di truyền, phát triển, chuyển hóa và chấn thƣơng. Thoái hóa khớp liên quan đến tất cả các mô của khớp động, cuối cùng biểu hiện bởi các thay đổi hình thái, sinh hóa, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến nhuyễn hóa, nứt loét và mất sụn khớp, xơ hóa xƣơng dƣới sụn, tạo gai xƣơng ở rìa khớp và hốc xƣơng dƣới sụn. Bệnh có tính chất mạn tính gây đau đớn và biến dạng khớp nhƣng không do viêm đặc hiệu, hay gặp ở những khớp ngoại biên và ở những khớp phải chịu đựng sức nặng của cơ thể nhƣ khớp gối, khớp háng [3],[18],[37].
Tên bệnh viêm xƣơng khớp (Osteoarthritis) đƣợc Spender áp dụng năm 1886 nhƣng nó đƣợc sử dụng nhƣ một danh pháp để chỉ bệnh viêm khớp dạng thấp. Năm 1907 Garrod đã mô tả bệnh một cách kỹ lƣỡng và chính thức công bố đây là bệnh hoàn toàn riêng biệt với bệnh viêm khớp dạng thấp [45], [52],[60]. Năm 1984, Altman và cộng sự đƣa ra cách xếp loại các bệnh hƣ khớp. Các tác giả đã xếp vào nhóm thoái hóa khớp nguyên phát các trƣờng hợp chƣa phát hiện đƣợc nguyên nhân rõ ràng và thoái hóa khớp thứ phát xảy ra sau các chấn thƣơng khớp, do dị tật bẩm sinh làm vẹo khớp hoặc độ dài không đều của chi dƣới, hoặc sau các viêm khớp nhiễm trùng, do lao[34].
Năm 1927, Dommer nói tới tác động của yếu tố cơ học, các stress ở trạng thái tĩnh và sự béo phì làm thoái hóa sụn khớp. Kellgren, Lawrence và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố chung ảnh hƣởng tới bệnh thoái hóa khớp đã kết luận thoái hóa khớp có thể là tự phát nhƣng cũng có thể là thứ phát sau các 4 chấn thƣơng, dị dạng khớp hoặc sau các bệnh khớp xƣơng do chuyển hóa [49], [52]. Cho đến nay nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh vẫn còn có những vấn đề tuổi tác và tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài là những yếu tố liên quan chặt chẽ với thoái hóa khớp [3], [20],[35], [37]. Sơ lược giải phẫu chức năng khớp gối [2],[8],[16].
Diện khớp Khớp gối là một khớp phức hợp gồm hai khớp: khớp giữa đầu dƣới xƣờng đùi với đầu trên xƣơng chày và khớp giữa đầu dƣới xƣơng đùi với xƣơng bánh chè. - Đầu dƣới xƣơng đùi gồm 3 diện khớp: lồi cầu trong, lồi cầu ngoài và diện ròng rọc. - Đầu trên xƣơng chày gồm hai diện khớp tiếp khớp với hai lồi cầu xƣơng đùi. - Mặt sau xƣơng bánh chè tiếp khớp ở sƣờn ngoài và sƣờn trong của ròng rọc xƣơng đùi.
Sụn chêm nằm giữa đầu xƣơng đùi và xƣơng chày. Có hai sụn chêm, sụn chêm trong hình chữ C và sụn chêm ngoài hình chữ O. Cấu tạo của hai sụn chêm này là những mô sụn sợi. Bờ ngoài của mỗi sụn đều dày rồi mỏng dần về phía trung tâm và giới hạn bằng một bờ vòng sắc.
Sụn chêm có ý nghĩa rất lớn trong các động tác của khớp, nó di chuyển ra sau khi gấp cẳng chân và di chuyển ra trƣớc khi duỗi cẳng chân làm giảm bớt sự không tƣơng xứng của các diện khớp và bớt đi các va chạm khi vận động khớp. Cấu trúc khớp gối [2] Khớp gối là khớp chịu toàn bộ sức nặng của cơ thể, cấu tạo đƣợc chia làm 3 phần: 5 - Cấu trúc xƣơng gồm có: lồi cầu đùi, mâm chày và xƣơng bánh chè, bọc các đầu xƣơng là một lớp sụn khớp. - Cấu trúc phần mềm ngoài khớp gồm: bao khớp, các dây chằng bên và các nhóm gân cơ.