CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tài nguyên nước 1.1 Tài nguyên nuớc ở Việt Nam Việt Nam hiện có khoảng 3.450 con sông với chiều dài từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính, 126 sông bắt nguồn từ nước ngoài, 76 sông bắt nguồn từ trong nước chảy ra nước khác, 76 sông bắt nguồn từ trong nước chảy ra nước khác, và 4 con sông chảy vào sau đó chảy ra. Toàn quốc có 108 lưu vực sông (LVS) với tổng diện tích khoảng 1.000 km2, diện tích lưu vực ngoài lãnh thổ vào khoảng 72%. Lượng mưa trung bình khoảng 2. Mùa khô thường kéo dài từ 6 đến 9 tháng, chiếm khoảng 10 - 30% tổng lượng nước cả năm [1].
Tổng lượng nước mặt vào khoảng 840 tỷ m3/năm, tập trung chủ yếu trên 9 lưu vực sông lớn. Tuy nhiên, khoảng 62% nguồn nước mặt (tương ứng với 520 tỷ m3) được tạo ra từ ngoài biên giới. Nếu chỉ tính nguồn nước nội sinh, mỗi người dân chỉ đạt khoảng 3. Tài nguyên nước (TNN) của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nước từ nước ngoài.
Các lưu vực phụ thuộc vào dòng chảy từ các nước khác là: sông Cửu Long (95%), sông Hồng - Thái Bình (40%), sông Mã (30%), sông Cả (22%) và sông Đồng Nai (17%). Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam và sau đó lại chảy về Trung Quốc. Dòng chảy mặt trong lãnh thổ Việt Nam trên LVS Sê San và Srê Pốk chiếm 75% và 50% tổng lượng nước. Tổng lượng nước khai thác, sử dụng hàng năm vào khoảng 80,6 tỷ m3 (xấp xỉ 10% tổng lượng nước mặt).
Tổng trữ lượng tiềm năng nguồn nước dưới đất vào khoảng 48,5 tỷ m3/năm (khoảng 5,7% lượng nước mặt), nhưng chỉ tập trung ở một số khu vực như Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên. Nước dưới đất được khai thác sử dụng chủ yếu cho cấp nước sinh hoạt và công nghiệp với gần 40% lượng nước cấp cho đô thị và khoảng gần 80% lượng nước sử dụng cho sinh hoạt nông thôn [1]. Hiện trên cả nước có khoảng 7.570 đập, hồ chứa với tổng dung tích khoảng 70,5 tỷ m3, trong đó dung tích hữu ích khoảng 37 tỷ m3 (khoảng 4,5% tổng lượng nước mặt). Thủy điện chiếm 37% tổng sản lượng điện quốc gia.
Trong đó có: 401 đập, hồ chứa thủy điện: 7.016 đập, hồ chứa thủy lợi, cung cấp nước tưới cho hơn 4 triệu ha diện tích đất nông nghiệp. Việt Nam có dung tích chứa tính trên đầu người khoảng 440 m3/người. Đây là tỷ lệ thấp nhất trên thế giới (Mỹ và Úc trên 5.000 m3/người, Trung Quốc 2. Khả năng trữ nước trong mùa lũ để phục vụ cấp nước trong mùa cạn của Việt Nam còn khá thấp [1].2 Nhu cầu sử dụng nước.
* Nhu cầu sử dụng nước tại Việt Nam: - Trong năm 2019, tổng lượng nước khai thác, sử dụng trong ngành nông nghiệp trên cả nước khoảng 65 tỷ m3/năm [2]. 3 - Đối với nước sử dụng cho công nghiệp, trong năm 2019, tổng lượng nước sử dụng khoảng 7,49 tỷ m3, trong đó 7,06 tỷ m3 từ nguồn nước mặt. Dự kiến nước sử dụng trong ngành công nghiệp sẽ tăng lên khoảng 15,6 tỷ m3 vào năm 2030, trong khi lượng nước mặt ít biến động qua các năm đã làm tăng nhu cầu sử dụng nước dưới đất, đặt ra mối đe dọa đối với an ninh nước, gia tăng sự cố do sụt lún đất và gia tăng hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng cửa sông [2]. * Mức độ sử dụng nước của ngành du lịch Du lịch là một động lực kinh tế đầy hứa hẹn cho nhiều quốc gia và là một trong những yếu tố phân phối nền kinh tế trên thế giới.
Nhưng nó là một ngành tiêu thụ nhiều nước và nó có tác động đặc biệt đến môi trường [3]. Du lịch cung cấp hơn 10% GDP thế giới và tạo ra khoảng 115 triệu việc làm. Đây là một ngành đang phát triển trên quy mô toàn cầu, với 1,133 tỷ lượt khách quốc tế được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đăng ký vào năm 2014, với ước tính 1,8 tỷ lượt vào năm 2030 [3]. Ngành dịch vụ khách sạn nghỉ dưỡng là một trong những ngành đặc thù du lịch, có vai trò to lớn trong nền kinh tế của một quốc gia.
Nhiều dịch vụ cung cấp cho các khách hàng của khách sạn sử dụng nhiều tài nguyên (năng lượng, nước, thực phẩm) và các khách sạn cũng có tác động tiêu cực lớn đến môi trường của tất cả các tòa nhà thương mại/ dịch vụ [4]. Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch sẽ có tác động bất lợi đáng kể đến môi trường, vì ngày càng nhiều cơ sở vật chất cần được cung cấp để phục vụ lượng khách du lịch ngày càng tăng [5]. Hiện nay, ngành du lịch tiêu thụ 1% lượng nước tiêu thụ toàn cầu. Đây là một con số nhỏ nếu chúng ta so sánh với ngành nông nghiệp, nơi tiêu thụ gần 70% lượng nước được cung cấp trên thế giới, hoặc cho ngành công nghiệp, nơi tiêu thụ 19% lượng nước.
Tuy nhiên, ở một số quốc gia có nền tảng phát triển là ngành du lịch thì mức tiêu thụ nước vượt quá 7%, và ở một số hòn đảo như ở Caribê hoặc ở Polynesia, lĩnh vực du lịch là ngành tiêu thụ nước chính [3]. Các khách sạn và khu nghỉ dưỡng là những nơi sử dụng rất nhiều nước [4], [5]. Một tòa nhà khách sạn cung cấp nhiều tiện nghi và chức năng khác nhau và thường hoạt động 24 giờ một ngày trong suốt cả năm [6]. Do đó, cần một lượng nước đáng kể cho hoạt động hàng ngày trong các khu vực chức năng khác nhau như giặt là, nấu ăn và phòng khách, nhà hàng, khu vực công cộng, hồ bơi.
Thành phần tiêu thụ nước của một khách sạn bao gồm: 34% phòng khách, 22% nhà bếp, 20% phòng tắm công cộng, 17% giặt là, 1% Hệ thống sưởi, Thông gió và Điều hòa không khí (HVAC), 4% tạo hơi nước và 2% cho bể bơi [7]. Ở Đức, lượng nước tiêu thụ của khách du lịch cao hơn lượng nước tiêu thụ của người dân. Một khách du lịch châu Âu tiêu thụ khoảng 300 lít mỗi ngày so với mức tiêu thụ của một cư dân châu Âu là 100 - 200 lít mỗi ngày, trung bình khoảng 150 lít. Các khách sạn trung bình đến lớn sử dụng 79.000 lít mỗi ngày hoặc 301 lít mỗi phòng, tương đương với việc sử dụng 29 bể nước Olympic mỗi năm [8].
Theo nhà nghiên cứu, đối với một phòng khách sạn tiêu chuẩn đơn ở Philippines, lượng nước tiêu thụ là khoảng 396gallon mỗi ngày và lượng nước này có thể được sử dụng cho 14 người ở mức sống hiện tại của họ. Hơn nữa, tính bền vững 4 ngày càng trở thành một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất đối với các chủ khách sạn trong thế kỷ 21 khi chi phí tiếp tục tăng, nhu cầu ngày càng trở nên nhạy cảm và áp lực phải có trách nhiệm về kinh tế, xã hội và môi trường ngày càng tăng [9]. Do đó, việc bảo tồn nguồn nước cần được ưu tiên hàng đầu đối với các khách sạn. Nước cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người và đóng một vai trò quan trọng đối với nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.
Tuy nhiên, tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian và thời gian, chịu nhiều tác động do hoạt động của con người và phát triển kinh tế. Tốc độ đô thị hóa nhanh và việc mở rộng hệ thống cấp nước và vệ sinh của thành phố cũng góp phần làm tăng nhu cầu sử dụng nước. Hơn nữa, các kịch bản biến đổi khí hậu dự báo các biến đổi không gian và thời gian của động lực chu trình nước, làm trầm trọng thêm sự khác biệt giữa cung và cầu nước [10]. Nước tưới và sản xuất lương thực là một trong những áp lực lớn nhất đối với nguồn nước ngọt, với nông nghiệp chiếm hơn 70% lượng nước ngọt rút toàn cầu và lên đến 90% ở một số nền kinh tế phát triển [10].
Các dự báo về sản xuất nhiên liệu sinh học chỉ ra rằng nếu đến năm 2030, 5% phương tiện giao thông đường bộ được sử dụng nhiên liệu sinh học (mục tiêu của EU là 10% vào năm 2020 [11]), thì lượng nước sử dung để phát triển nguyên liệu cho nguồn NLSH này sẽ chiếm ít nhất 20% lượng nước được sử dụng cho nông nghiệp trên toàn cầu [12]. Công nghiệp cũng là đối tượng sử dụng nước lớn, chiếm từ 10% (Châu Á) đến 57% (Châu Âu) tổng lượng nước tiêu thụ [13]. Nước là một trong những rủi ro toàn cầu hàng đầu theo Báo cáo Rủi ro Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới [14]; ước tính mức thiếu hụt 40% nguồn cung cấp nước trên toàn cầu vào năm 2030, nếu không có thay đổi nào được thực hiện trong cách quản lý nước. Ngoài việc là một nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại của con người và là nhiên liệu để phát triển kinh tế, nước còn là yếu tố cơ bản cho các dịch vụ hệ sinh thái bền vững.
Các hệ sinh thái của Trái đất không thể hoạt động nếu không được cung cấp đầy đủ nước có chất lượng phù hợp. Tuy nhiên, mỗi khi con người tiếp cận, phát triển, vận chuyển hoặc sử dụng tài nguyên nước, chúng sẽ để lại tác động làm suy giảm do sông, hồ, đất ngập nước hoặc tầng chứa nước ngầm cung cấp nước. Bằng cách tăng nồng độ và các tác động sinh thái của các chất ô nhiễm, khan hiếm nước là một yếu tố gây tác động chính trong nhiều hệ sinh thái sông vì nó có xu hướng làm trầm trọng thêm các tác động bất lợi của các yếu tố gây tác động khác [15]. Tình trạng khan hiếm nước đặc biệt quan trọng ở các vùng bán khô hạn như khu vực Địa Trung Hải, nhưng cũng ở các vùng khác nơi mà nhu cầu sử dụng nước đã đến gần hoặc thậm chí vượt quá khả năng cung cấp nước.
Điều này bao gồm các khu vực rộng lớn của Châu Âu, như được trình bày trong Chỉ số Khai thác Nước (WEI), được định nghĩa là tỷ lệ của tất cả các khoản khai thác hàng năm trên các nguồn tài nguyên liên năm. Hai phần ba dân số thế giới hiện đang sống trong các khu vực khan hiếm nước ít nhất một tháng một năm, có nghĩa là 5 khoảng 500 triệu người sống ở các khu vực có mức tiêu thụ nước vượt quá hai hệ số hai [16]. Sự sẵn có của tài nguyên nước về bản chất cũng liên quan đến chất lượng nước, vì ô nhiễm nguồn nước có thể hạn chế các loại hình sử dụng khác nhau.