Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005. - Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn. - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 về Quản lý chất thải nguy hại.
- Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16 tháng 12 năm 2010 Vè Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Môi trường. - Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007. - Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007. - Quyết định số 2575/1999/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 08 năm 1999: Về việc ban hành Quy chế quản lí chất thải y tế.
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006: Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại. - Quyết định 21495/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050. - Quyết định 155/1999/QĐ- TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý chất thải nguy hại. - Quyết định 153/2006/QĐ- TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.
n 4 - TCVN 7382/2004 và QCVN 28:2010 về chất lượng nước thải bệnh viện, tiêu chuẩn thải. - QCVN 01:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống. Các khái niệm liên quan 1. Định nghĩa chất thải y tế Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định:[9] Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn. Phân loại chất thải y tế Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm :[9] * Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải: - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. n 5 - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. * Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau: - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. - Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ,chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị).
Phân loại chất thải rắn theo mức độ độc học Loại chất thải Nguồn tạo thành Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ khu nhà bếp, khu nhà hành chính, các loại bao, gói, hộp các tông, các thức ăn thừa, các đồ bỏ đi của bệnh nhân không mắc bệnh lây nhiễm… Chất thải chứa các Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan, nội tạng của trùng gây bệnh người sau khi mổ xẻ và của động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân… Chất thải chứa các Các môi trường nuôi cấy và tích trữ tác nhân gây vi trùng gây bệnh bệnh thải ra phòng thí nghiệm, các phế thải trong phòng mổ, các vật liệu mổ xẻ và các phế thải trong phòng cách ly những căn bệnh dễ lây, các phế thải sinh ra khi điều trị các bệnh nhân nhiễm khuẩn và n 6 qua quá trình phân tích như các dụng cụ, áo choàng, khăn tay, tạp dề, các gạc, bông băng có dính máu mủ của bệnh nhân. Các phế thải trong bụng người bệnh như phân, nước tiểu có chứa nhiều loại dịch bệnh, có khả năng lây lan trực tiếp đến nười khác qua đường truyền bệnh. Các vật sắc, nhọn Các vật sắc nhọn như: kim tiêm, dao kéo mổ, lưỡi dao cạo, các ống thủy tinh dễ vỡ, những dụng cụ cắt gọt và tiêm chích khác…. Chất thải dược Bao gồm thuốc men, dược phẩm, các loại hóa chất, phẩm các sản phẩm về dược bị đánh đổ, nhiễm bẩn thuốc men quá hạn sử dụng, hay các dược phẩm bị bỏ do các nguyên nhân nào đó.
Chất thải hóa chất Các loại hóa chất ở thể rắn, thể lỏng, thể khí từ các phòng thí nghiệm, hay từ các nguồn khác như việc chuẩn đoán bệnh, thí nghiệm, các loại hóa chất tẩy rửa nhà vệ sinh, vệ sinh dụng cụ, tẩy uế, khử trùng. Các chất thải hóa chất cũng phân loại thành 02 nóm + Nhóm 1: Loại độc hại bao gồm các hóa chất có chứa axit với nồng độ pH<2, chất kiềm pH>12, chúng có thể gây ra những sự ăn mòn hay phá hủy dần, các chất dễ cháy nổ phản ứng ngoài không khí, các chất độc hại làm thay đổi gen, chất ung thư, chất quái thai độc hại cho tế bào. + Nhóm 2: Chất không độc hại bao gồm đường, axit amin, các muối hữu cơ và vô cơ… Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất phóng xạ, hóa chất dược, dùng trong các mô cơ thể người hay các chất lỏng trong việc định vị khối u… n 7 * Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt. * Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại. - Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim. - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải y tế 1.
Nguồn gốc phát sinh Theo Quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường [4]. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn. n 8 Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô, cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ). Chất thải lỏng y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu thuật, xét nghiệm, thí nghiệm.) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh.
Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thường còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị [6]. Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại) là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm: chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly); chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại); chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túi nilon.); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh). Thành phần chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.