Đặt vấn đề Trong những năm gần đây xã hội đang trên đà phát triển, các công nghệ tiên tiến được áp dụng vào quá trình xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng như đầu tư vào quy trình sản xuất công nghệ ngày càng phong phú, đặc biệt là các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ,. đã phát sinh ra nhiều nguồn thải có chứa hàm lượng nitơ cao như các ngành công nghiệp chế biến thủy sản, nước thải chăn nuôi, nước rỉ rác, nước thải sau bể phân hủy bùn, thậm chí có những nguồn nước thải sinh hoạt đôi khi cũng chứa một hàm lượng nitơ không nhỏ. Bên cạnh đó, một lượng nước rỉ ra từ các bãi chôn lấp chất thải rắn, lượng nước này không lớn nhưng lại ô nhiễm rất cao. Thông thường nước rỉ rác có hàm lượng ammonia rất cao.
Hàm lượng nitơ cao kích thích sự phát triển của rong rêu, tảo,… gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa làm bẩn trở lại nguồn nước, gây thiếu hụt oxy hòa tan (DO) trong nước, khí NH3 hòa tan > 0.2mg/l gây chết nhiều loài cá. Chính vì thế, việc nghiên cứu công nghệ xử lý mới có tính hiệu quả cao, chi phí thấp để xử lý nitơ trong nước thải là một yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, việc tìm kiếm một công nghệ thích hợp để xử lý nitơ trong nước thải trong hoàn cảnh hiện nay cũng như tương lai là đáng được quan tâm. Năm 1995, một phản ứng chuyển hóa nitơ mới chưa từng biết đến trước đó, về cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, đó là phản ứng oxy hóa kỵ khí Ammonia (Anaerobic Ammonium oxidation, viết tắt là Anammox).
Trong đó, ammonium được oxy hóa bởi nitrit trong điều kiện kỵ khí, không cần cung cấp chất hữu cơ để tạo thành nitơ phân tử. Sự phát triển quá trình anammox đã mở ra hướng phát triển kỹ thuật xử lý nitơ mới, đặc biệt là đối với nước thải có hàm lượng nitơ cao. Vì vậy, việc thực hiện đề tài : “ Nghiên cứu ứng dụng mô hình EGSB kết hợp quá trình Anammox để xử lý nitơ trong nước rỉ rác cũ” được tiến hành trong việc xử lý nước thải có hàm lượng Nitơ cao. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu khả năng xử lý Nitơ trong nước thải rỉ rác cũ bằng mô hình EGSB (Expanded Granular Sludge Bed) kết hợp quá trình Anammox.
- Đánh giá các đặc tính của bùn hạt Anammox sinh trưởng trong mô hình EGSB. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu tập trung vào: Nước rỉ rác cũ bãi chôn lấp Gò Cát với nồng độ nitơ ammonia cao. Mô hình EGSB được thiết kế phù hợp để tạo điều kiện thích hợp cho quá trình xử lý. Nội dung nhiên cứu Nội dung nghiên cứu bao gồm: Thích nghi nhóm vi khuẩn Anammox bằng nước rỉ rác cũ sau quá trình nitrite hóa bán phần đã pha loãng với tỷ lệ thích hợp.
Kiểm soát các yếu tố pH, DO, HRT nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hiệu quả xử lý ở từng giai đoạn vận hành. Tăng tải trọng nitơ để đánh giá hiệu quả xử lý nitơ của mô hình. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thực nghiệm mô hình, nghiên cứu trên mô hình. - Phương pháp lấy mẫu và phân tích.
- Phương pháp tính toán và xử lý số liệu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn a) Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu là cơ sở lý thuyết để đánh giá khả năng thích nghi, sinh trưởng và phát triển của nhóm vi khuẩn Anammox trong nước rỉ rác cũ. - Tạo cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn các yếu tố và thành phần hóa sinh trong nước rỉ rác cũ ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý nitơ. - Tạo tiền đề cho việc tính toán thiết kế các công nghệ ứng dụng mô hình EGSB 3 để loại bỏ nitơ trong nước rỉ rác cũ ở ngoài thực tế.
4 b) Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của đề tài cũng là cơ sở để triển khai ứng dụng mô hình EGSB trong xử lý nước rỉ rác cũ có nồng độ ammonia cao với chi phí đầu tư cơ bản và vận hành cạnh tranh hơn so với quá trình sinh học truyền thống (nitrate hóa-khử nitrate). - Kết quả đề tài cũng làm tiền đề để nghiên cứu các loại nước thải có nồng độ ammonia cao từ một số lĩnh vực như: Nước thải từ lò mổ, nước thải từ chế biến nước tương, các xí nghiệp chế biến thủy sản, nhà máy chế biến tinh bột sắn và thực phẩm, v. Tính mới của đề tài Xác định được khả năng ứng dụng của công nghệ EGSB cho việc xử lý nước rỉ rác cũ ở Việt Nam nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, bước đầu cho việc nghiên cứu quy mô phòng thí nghiệm. Tuy nhiên ở Việt Nam, công nghệ ứng dụng quá trình Anammox này vẫn còn nghiên cứu một cách hạn chế và chưa được ứng dụng vào thực tế.
5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN. Tổng quan về nước rỉ rác Nước rỉ rác cũ là loại nước thải bị ô nhiễm nặng và thành phần phức tạp. Hỗn hợp các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ có thể được sinh ra từ các quá trình sinh học, hóa học và vật lý diễn ra trong các bãi rác (Heyer và stegmann, 2002; Poznyak và cộng sự, 2008). Thành phần nước rỉ rác phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Tuổi thọ bãi rác, khí hậu, bản chất của các chất thải bị phân hủy và thành phần chất thải ở các vị trí khác nhau.
Nước rỉ rác bao gồm 4 thành phần chính: (Christensen và cộng sự, 2001; Kjeldsen và cộng sự, 2002). Chất hữu cơ hòa tan bao gồm: Nhu cầu oxy hóa học (COD) hoặc tổng cacbon hữu cơ bao gồm: CH4, các Acid béo dễ bay hơi và các hợp chất khó phân hủy sinh học như: Acid fulvic, acid humic, v.v… Các hợp chất vô cơ: Ca2+, Mg2+, Na+, K+, NH4+, Fe2+, Mn2+, Cl-, SO42-, HCO3- Các kim loại nặng: , , , , ,. Các hợp chất hữu cơ xenobiotic (XOCs) có nguồn gốc từ các hộ gia đình và trong công nghiệp. Chúng có nồng độ tương đối thấp (thông thường ít hơn 1 g/m3 ứng với từng chất riêng lẻ) trong nước rỉ rác bao gồm: Các loại hidrocabon vòng thơm, axit carbolic và các hợp chất halogen hữu cơ hấp phụ, v.v… Thành phần nước rỉ rác cũng có thể được đặc trưng bởi độc chất khác nhau và cũng được xác định bởi các xét nghiệm về độc học (Vibrio fischeri, Daphnia similes, Artemia salina ,v.v…) và đều này cung cấp thông tin về hàm lượng các chất ô nhiễm có thể gây hại đến các loại sinh vật xác định (Kjeldsen và cộng sự, 2002; Renou và cộng sự, 2008).
Chất độc được hình thành từ hỗn hợp của các chất ô nhiễm khác nhau. Các thử nghiệm về độc chất có thể đưa ra nhiều thông tin về tiềm năng tác động đến môi trường hơn là thực hiện các phép phân tích về hóa học đơn thuần (Marttinen và cộng sự, 2002). Các thử nghiệm độc học đã xác định các tiềm năng gây ô nhiễm của nước rỉ rác và cần phải xử lý nó (Kjeldsen và cộng sự, 2002; Renou và cộng sự, 6 2008). Có nhiều yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng của nước rỉ rác.
Tuy nhiên, trong các yếu tố thì tuổi thọ của bãi rác là yếu tố ảnh hưởng đặc biệt đến thành phần nước rỉ rác (Renou và cộng sự, 2008). Kulikowska và Klimiuk (2007) đã đưa ra số liệu cho thấy tuổi thọ của bãi rác có ảnh hưởng đặc biệt đáng kể đến các hợp chất hữu cơ và sự biến đổi các hợp chất này theo thời gian. 3 loại nước rỉ rác có thể được phân loại theo tuổi thọ của bãi rác là: Mới, trung và ổn định (Amokrane và cộng sự, 1997; Poznyak và cộng sự, 2008). Nhìn chung, nước rỉ rác mới chứa nhiều hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học và sản phẩm của quá trình lên men kỵ khí nhanh của các hợp chất hữu cơ này thường chứa nồng độ cao của các Acid béo dễ bay hơi (VFA).
Theo thời gian, khi nước rỉ rác trong giai đoạn lên men metan, sự phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ dễ phân hủy sinh học giảm dần và VFA chuyển thành khí sinh học. Do đó, các chất hữu cơ, tỉ lệ BOD/COD giảm đáng kể và các hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học chiếm chủ yếu trong nước rỉ rác cũ (Welander và cộng sự, 1998; Neczaj và cộng sự, 2007). Ngược lại, hàm lượng ammonia không giảm và thường là chất gây ô nhiễm chính trong nước rỉ rác cũ (Kjeldsten và cộng sự, 2002). Nguồn nitơ chủ yếu là protein và chiếm khoảng 0,5 % trọng lượng khô của chất thải rắn đô thị.
Sự thủy phân mạch polypeptide rất khó xảy ra vì cần rất nhiều năng lượng và đây là nguyên nhân làm cho quá trình động học của sự thủy phân protein xảy ra chậm và điều này gây ra sự giải phóng ammonia chậm. Nitơ có thể gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa cho các nguồn nước tiếp nhận. Do đó, sự loại bỏ nó ra khỏi các nguồn nước thải nói chung và nước rỉ rác cũ nói riêng bằng phương pháp sinh học là cấp thiết (Jokela và cộng sự, 2002). Thành phần nước thải đầu vào lấy tại bãi chôn lấp Gò Cát được thể hiện ở bảng sau: Bảng 2.1: Thành phần nước rỉ rác lấy từ bãi rác Gò Cát Giá trị trung bình ± STD STT Chỉ tiêu Đơn vị (n=8) 1 pH - 8,0 - 8,5 7 2 Độ kiềm mg CaCO3//L 15.449 233 5 NO2—N mg/L 0,21 0,08 6 NO3—N mg/L 2,23 0,18 7 COD mg/L 2.761 436 8 BOD5 mg/L 100 25 9 Phospho tổng mg/L 21 3 10 Độ cứng tổng mg CaCO3//L 1.557 25 11 SO42- mg/L 0,95 0,08 12 Cl- mg/L 3.442 26 13 Fe tổng mg/L 2,00 0,07 14 SS mg/L 59 16 (Nguồn: Biếc và cộng sự, 2012) Theo số liệu bảng 2.1, nước thải đầu vào chứa hàm lượng ammonia rất cao (NH4+-N = 3500 mg N/L) là nguyên nhân gây ra hiện tượng phú dưỡng hoá nguồn nước mặt.
Việc xử lý nitơ theo phương pháp truyền thống không mang lại hiệu quả cao đối với nước rỉ rác vì tỉ lệ BOD5/COD = 0.04 (khá thấp), mà COD trong nước rỉ rác cũ chủ yếu là khó phân hủy sinh học. Do đó, cần phải bổ sung thêm nguồn cacbon từ bên 8 ngoài vào trong giai đoạn khử nitrate và chi phí sục khí cho quá trình nitrate hóa. Xử lý nitơ bằng phương pháp sinh học truyền thống (nitrate hóa và khử nitrate) không hiệu quả về mặt chi phí vận hành cũng như chi phí xử lý. Ngoài các chất ô nhiễm hữu cơ và nitơ dưới dạng ammonia, nước rỉ rác còn chứa các khoáng chất vi lượng như: Fe, Zn, Mg, Cu, v.